Biện luận về ngôn ngữ Việt thuần túy

Ngày 18 tháng 11 năm 2011

Dương Thị Phương Hằng và Đại Tá Vũ Lăng

Hôm nay chúng tôi chọn đề tài gai góc trên để chứng minh rằng từ xưa tới nay trải qua mấy ngàn năm lịch sử, từ thế hệ này đến thế hệ khác mãi đến thế hệ của chúng tôi mọi người Việt đã nghĩ sai, nói sai và viết sai về ngôn ngữ Việt khi họ vẫn tiếp tục tin rằng tiếng Việt là một tập hợp của 60% tiếng Hán Việt và 20% của những ngôn ngữ khác như tiếng Mã Lai, tiếng Chàm, tiếng Lào, tiếng Thái, tiếng Pháp, tiếng Miên, tiếng Mỹ v..v.. Như vậy tiếng Việt chỉ có 20% cho nên rất nghèo nàn không đủ chữ và nghĩa để diễn tả những ý tưởng của dân tộc Việt.

) Gần đây nhất chúng tôi đã may mắn được đọc những bài viết của rất nhiều người tự nhận là những nhà nghiên cứu về ngôn ngữ Việt, chúng tôi nhận thấy những người này chỉ sao chép lại những gì mà sách vở của những người xưa đã viết và để lại mà không hề thắc mắc hoặc nghi hoặc một điều gì trong nội dung của những quyển sách viết về ngôn ngữ Việt của các tác giả đó. Cá nhân chúng tôi không đồng ý với những suy nghĩ lệch lạc về ngôn ngữ Việt của những tác giả đó cho nên chúng tôi đã học rất nhiều ngoại ngữ trong đó có tiếng Hán còn gọi là tiếng Quan thoại ( ngày xưa tại Trung Hoa chỉ có các Vua và các quan trong triều đình mới nói và viết tiếng Hán, ngày nay tại Trung Hoa tiếng Hán được gọi là tiếng Phổ thông bởi vì toàn dân Trung Hoa phải biết đọc, nói và viết ).

) Sau khi học tiếng Hán, tìm hiểu, nghiên cứu và so sánh tiếng Hán với tiếng Việt chúng tôi khẳng định rằng dân tộc Việt nói tiếng Việt và không hề pha lẫn tiếng nói của bất cứ một dân tộc ngoại lai nào. Chúng tôi không hiểu tại sao người ta gọi là tiếng Hán Việt khi tiếng Việt hoàn toàn khác với tiếng Hán về cách phát âm và về các dấu giọng. Như vậy Tiếng Hán là tiếng Hán và tiếng Việt là tiếng Việt không thể bảo rằng tiếng Việt bao gồm 60% tiếng Hán Việt. Tiếng Việt cũng hoàn toàn khác với các tiếng nói của các dân tộc lân bang gần và xa. Thí dụ: tiếng Hán viết theo dạng Pinyin ( cách phát âm ) chữ người: rén đọc là rơ ể n = rển. Tiếng Việt nói và viết là người hoặc nhân hoặc nhơn. Tiếng Hán không có chữ nào đọc là nhân hay nhơn để chỉ chữ người. Như vậy đủ chứng minh rằng tiếng Hán hoàn toàn khác với tiếng Việt. ) Theo định nghĩa Ngôn là tiếng nói và Ngữ là chữ viết. Như vậy tất cả những ngôn ngữ trên thế giới đều phát xuất từ tiếng nói của mỗi dân tộc, từ cách phát âm để cấu tạo thành tiếng nói của dân tộc đó, sau cùng tiếng nói đó mới được hệ thống hóa để trở thành một bộ hay một dạng chữ viết cho tiếng nói đó. Việt ngữ cũng không đi ra ngoài nguyên lý trên. Theo một tài

liệu về Ngôn ngữ học mà chúng tôi đã đọc qua thì chữ Quốc ngữ là một dạng Chữ Viết được hình thành không phải do sự ngẫu nhiên từ những chữ phiên âm tiếng Việt mà thực ra chữ Quốc ngữ được hình thành theo hướng chung của các giáo sĩ Tây Phương bởi vì họ muốn Latin hóa các chữ Á Đông nằm trong địa bàn truyền giáo của họ. Thật vậy, tại Trung Hoa, Hoa ngữ được các nhà truyền giáo dùng mẫu tự Latinh phiên âm trước nhất, công việc nầy do hai giáo sĩ Dòng Tên là Micac Ruggieri và Matteo Ricci đã soạn quyển Ngữ vựng hay Tự vựng Bồ-Hoa, quyển nầy mỗi trang chia làm 3 cột : chữ Bồ, chữ Hán, phiên âm Hoa ngữ, tài liệu nầy soạn khoảng năm 1584-1588, bảng viết tay còn lưu trử tại văn khố Dòng Tên ở La Mã (Rome). Năm 1598, giáo sĩ Ricca và Cateneo đã dùng ký hiệu để ghi các thanh Hoa ngữ. Tại Nhật Bản, các tác phẩm chữ Nhật đã được La tinh hóa, từ năm 1592 đến năm 1596 có đến 10 tác phẩm loại nầy được in ra, hai tác phẩm quan trọng sau đây đáng được nhắc đến:

Cuốn Giáo lý ghi bằng tiếng Nhật theo mẫu tự Latin có tên là : Dotrina Jesus no Compania no Collegio Amacusa ni voite superiores no vou xi no comuni core no fan to nasu mono nari, Nengi, 1592.

2) Cuốn tự điển La – Bồ – Nhật: Dictionarium latino lusitanicum ac Japonium (In Amacusa in Collegia Japonico Societa Jesus, Anno 1595)

Ngoài ra còn có sách ngữ pháp Nhật được in theo mẫu tự a, b, c vào năm 1603-1604.

Tại Việt Nam, thời kỳ sáng tạo chữ Quốc ngữ theo mẫu tự Latinh từ năm 1621 có thể chia ra làm 2 giai đoạn :

* Giai đoạn phiên âm.

* Giai đoạn cấu tạo câu.

) Chúng tôi không muốn đi sâu vào tiến trình sáng tạo chữ Quốc ngữ qua hai giai đoạn trên bởi vì chữ Quốc ngữ do những ngoại quốc sáng tạo theo mẫu tự Latinh nhằm mục đích để cho những người ngoại quốc đó khi muốn sang Việt Nam truyền giáo phải học tiếng Việt để có thế giao tiếp với những ngời Việt trong mục đích truyền giáo của họ. Người dân Việt đã nói tiếng Việt từ 5000 năm trước nhưng tổ tiên của chúng ta chưa có cơ hội và thời gian để hệ thống hóa một dạng chữ viết phù hợp với tiếng nói của chúng ta. Chữ Nôm là một dạng chữ quốc ngữ đầu tiên do La Sơn Phu Tử Nguyễn Thiếp, vị quân sư xuất chúng của ba anh em Nguyễn Nhạc, Nguyễn Huệ và Nguyễn Lữ, chế biến từ dạng chữ Hán nhưng không phổ thông bởi vì quá khó cho người học. Đến khi mẫu tự Latinh được du nhập vào Việt Nam vào năm 1621 và phải đợi cho đến năm 1895 chữ Việt mới phát triển toàn diện khi mà tất cả mọi người dân Việt đều có thể sử dụng một cách dể dàng.

) Theo suy nghĩ của chúng tôi thì tất cả mọi người kể cả người ngoại quốc cũng như người Việt Nam v.v…đều không hề sáng chế ra những âm của tiếng Việt, cách phát âm của tiếng Việt cũng như cách lắp ráp các âm

căn bản vào nhau để tạo ra một âm mới. Bởi vì người dân Việt đã phát âm ra tiếng Việt với 6 dấu giọng: sắc, huyền, hỏi, ngã, nặng và không dấu. Do đó những ai khẳng định rằng người sáng tạo ra chữ quốc ngữ, có một nguyên tắc nhất quán này “Ngoài chừng 60 chục chữ âm, tạo bằng nguyên âm, các chữ khác tạo bằng cách ráp 2 âm lại để tạo ra một âm mới, tức một chữ mới, và cứ như vậy để tạo tất cả khoảng 6,000 chữ đơn tiếng Việt” là hoàn toàn không đúng. Khi chúng tôi nghiên cứu về Ngôn Ngữ học và so sánh những ngôn ngữ trên thế giới chúng tôi nhận thấy Việt ngữ không phải là một ngôn ngữ đơn âm như các học giả hay thức giả đã từng viết thành sách để lưu truyền cho hậu thế từ hơn một thế kỹ qua. Cho đến ngày hôm nay mọi người vẫn tin tiếng Việt là một ngôn ngữ đơn âm. Tiếng Hán là một ngôn ngữ đơn âm. Do đó những suy nghĩ lệch lạc thường đưa tới những nghiên cứu lệch lạc và tranh cãi vô bổ. Chúng tôi rất thích những tranh luận cũng như những biện luận để mở mang thêm kiến thức nhưng chúng tôi không thích tranh cãi trên những vấn đề mà ngay từ trong tiền đề đã sai. Bài nghiên cứu này của chúng tôi gồm có hai phần:

1) Ngôn Ngữ Việt không phải là một ngôn ngữ đơn âm

) Trước tiên, chúng tôi muốn làm một công việc so sánh ngôn ngữ Việt với ngôn ngữ Anh để chứng minh về ý tưởng Việt ngữ của chúng tôi không phải là một ngôn ngữ đơn âm dựa theo cách phát âm của tiếng Việt và mẫu tự Latinh. Tiếng Anh có 5 nguyên âm và 15 cách phát âm có nghĩa là có 15 âm ( 15 sounds ) của 5 nguyên âm đó và 21 phụ âm, mỗi phụ âm có những âm riêng có thể phát ra và cũng có thể không phát ra. Ngôn ngữ luôn có rất nhiều từ vựng. Có từ đơn âm (one syllable) có từ đa âm ( two or more syllables ). Người Mỹ nói thí dụ: to eat, to meet, to fly, to talk . Những từ này đơn âm bởi vì chỉ có một syllable . Người Việt cũng nói thí dụ: ăn, học, nằm, mơ, ngủ, nghe. Giống như tiếng Anh, những từ này cũng đơn âm ( 1 syllable ). Người Mỹ nói thí dụ: The boy is going to the doctor. Từ the (1 syllable ) đơn âm, từ boy ( 2 syllables ) nhị âm, từ going ( 2 syllables ) nhị âm.Giảithíchtừboytạisao2âm?O+Y đọclênthànhOY,từgoingGO +ING đọc lên thành GOING v.v.. Người Việt nói thí dụ: Tôi đi buôn trầu để mua quạt. Từ tôi ( 2 syllables) nhị âm, từ đi (1 syllable) đơn âm, từ buôn (2 syllables) nhị âm, từ trầu (2 syllables) nhị âm, từ để ( 1 syllable ) đơn âm, từ mua ( 2 syllables) nhị âm, từ quạt ( 2 syllables ) nhị âm. Giải thích từ tôi cũng thế Ô +I đọc lên thành ÔI, từ buôn BU+ÔN đọc lên thành BUÔN, từ trầu TRẦ+U đọc lên thành TRẦU v.v…. Người Mỹ nói thí dụ: Undercover, understand, recognize, terrorize, terminator. Từ undercover ( 4 syllables) bốn âm UN+DER+CO+VER đọc lên thành UNDERCOVER, từ recognize ( 3 syllables) ba âm RE+CO+GNI+ZE đọc lên thành RECOGNIZE. Người Việt nói thí dụ nghiêu, cười, khuyết, khuỷu. Từ nghiêu ( 3 syllables) ba âm NGHI

+Ê+U đọc lên thành NGHIÊU. Từ khuyết KHU+Y+ẾT đọc lên thành KHUYẾT v.v.. Khi một từ vựng có 3 nguyên âm từ vựng đó phải phát ra 3 âm, như vậy từ vựng đó không thể gọi được là đơn âm. Như vậy tiếng Việt không thể nào là một ngôn ngữ đơn âm khi phải tuân theo nguyên tắc phát âm của tiếng nói. Chúng ta phải phân biệt rạch ròi về cách phát âm ( tiếng Mỹ gọi là sound out the letters ) và ráp âm hoặc đọc thành ( tiếng Mỹ gọi là blend in the sounds of the letters ) khác với ráp vần để làm thành một từ.

2) Cách cấu tạo của Ngôn Ngữ Việt

) Chúng tôi được biết tất cả những Ngôn Ngữ trên thế giới đều phải dựa theo nguyên tắc phát âm của giọng nói hay tiếng nói để cấu tạo thành Chữ Viết chứ không phải dựa theo những suy luận của vài cá nhân. Bất cứ một ngôn ngữ nào cũng có nguyên âm và phụ âm để cấu tạo thành một từ của tiếng nói. Nếu không có nguyên âm thì không có tiếng nói. Cho nên không có bán nguyên âm bởi vì mỗi nguyên âm là một âm riêng biệt, mà chỉ có bán phụ âm đối với chữ Y khi chữ Y đứng trước một nguyên âm khác. Cách phát âm của Y vẫn là ii. Âm của 2 nguyên âm ii đứng chung với nhau đọc lên thành âm lli như cách đọc trong từ feuille của tiếng Pháp và you của tiếng Anh. Cách phát âm của từ you ii+O+U= ill+u. Có người vẫn tin ràng ngôn ngữ Việt là một ngôn ngữ đơn âm cho nên đã bỏ công khảo sát các bán nguyên âm iê, uô, ươ. Như vậy là hoàn toàn SAI. Thí dụ: TOAN có 2 âm O +A đọc lên thành OA và ráp vần thành TOAN. Khi chúng tôi dạy học sinh đọc lên thành ( blend in the sounds ) chữ TOAN chúng tôi dạy một cách rất đơn giản: O+A= OA +N = OA+Nơ , ráp nguyên âm với phụ âm đứng sau nguyên âm trước rồi mới ráp phụ âm đứng đầu nguyên âm để đọc lên thành Tơ+OA +Nơ. Khi người Việt nói NGUYÊN, từ này có 3 âm NGU+Y+ÊN, NGU +Y=NGUY+ÊN đọc lên thành NGUYÊN. Như vậy nếu nói tiếng Việt có 6000 chữ đơn là hoàn toàn SAI. Hơn nữa cách cấu tạo của ngôn ngữ không theo bất cứ một quy tắc nào mà chỉ theo cách phát âm ra tiếng nói của ngôn ngữ từ sự cấu tạo của thanh quản. Do đó mà ngôn ngữ hay ngữ học không hề dính líu đến yếu tố cũ hay mới khám phá. Người ta chỉ có thể nói: tôi vừa mới khám phá ra một loại từ ngữ mới với những cách phát âm rất sáng tạo để dạy cho loài khỉ học nói tiếng người. Người Việt đã nói tiếng Việt từ hơn 5000 năm qua và từ đầu thế kỹ 19 các học giả Paulus Của, Phạm Quỳnh và Nguyễn Bá Học đã sử dụng các nghiên cứu của các Giáo sĩ Tây Phương dùng mẫu tự Latinh để hệ thống hóa và phát triển toàn diện chữ Quốc Ngữ. Tại sao đến ngày hôm nay phải cần có người thử nghiên cứu chữ quốc ngữ bằng cái nhìn hoàn toàn Việt Nam? Cái nhìn hoàn toàn Việt Nam là cái nhìn như thế nào?

Nhân dịp viết về Ngôn Ngữ Việt chúng tôi muốn gởi đến quý độc giả một bài nghị luận của học giả Phan Khôi biện luận với học giả Phạm Quỳnh viết trong tờ Phụ Nữ Tân Văn từ năm 1930. Cả hai ông đều là bạn chí thân.

Phan Khôi

Về cái ý kiến lập hội “Chấn hưng quốc học” của ông Phạm Quỳnh

Tôi viết bài nầy có ý đáp lại bài ông Phạm Quỳnh trả lời cho tôi về bài “Cảnh cáo học phiệt”, bài trả lời mà độc giả đã thấy trong Phụ nữ tân văn số 67. Tuy vậy, tôi lại có ý không để cho việc nầy thành ra cuộc tranh biện vô ích, nên tôi mới tiêu đề như trên kia, chỉ rút một cái yếu điểm trong bài của ông Phạm ra làm vấn đề nghị luận mà thôi.

Dẫu thế mặc lòng, trước khi nghị luận về chỗ yếu điểm đó, xin độc giả cho phép tôi diễn chung quanh nó một vòng, nghĩa là tôi muốn đả động tới một vài chỗ trong bài ông Phạm mà có dính dấp với cái yếu điểm đó.

Trước hết tôi xin nói cho dứt khoát về việc quan hệ giữa ông Phạm và tôi mới rồi. Cái bài “Cảnh cáo” của tôi mà ông cho là “làm án”, cái đó tôi không dám nhận. Hết sức tôi thì tôi chỉ nhận nó đến một cái khống trạng (un procès) là cùng. Trước mặt cái tòa án nào không biết, tôi tố cáo một hạng “học phiệt”, trong đó có ông Phạm Quỳnh, là như vậy đó; rồi nay ông Phạm có bài biện bộ (plaidoirie) mà tự cãi lẽ lấy cho mình là vậy đó. Vậy thì hai bên khúc trực thế nào, chắc ông cũng đồng ý với tôi mà đợi tòa phân xử, tôi không còn nên nói về việc ấy nữa làm chi.

Vụ kiện đó tha hồ cho tòa triển hoãn (renvoyer) đến bao giờ cũng được, tôi ví chẳng khác như người thọc vô đó một lá đơn rồi trở về kiếm phương kế làm ăn. Độc giả biết vậy rồi sẽ tin rằng dưới nầy là công việc làm ăn của tôi, chớ không còn kiện cáo ai nữa.

Trong bài trả lời, Phạm tiên sanh có nói rằng: “Đối với một cái dư luận còn bỡ ngỡ như vậy, tưởng cũng không nên câu nệ cho lắm. Không nên coi thường dư luận, nhưng cũng không nên làm nô lệ cho dư luận. Có nhiều điều dư luận nhao nhao lên đó mà người thức giả nên làm thinh”.

Đối với cái ý tưởng của Phạm tiên sanh trong đoạn đó, tôi phục nửa phần, còn nửa phần tôi không phục. Cái dư luận của ta đây thật đương còn bỡ ngỡ non nớt thật; đã là người thức giả thì không nên làm nô lệ nó. Nhưng mà không phải là mạt sát đi hết; cái dư luận nào đáng để ý thì ta cũng không nên

coi thường. Chỗ đó, tôi xin đồng ý với tiên sanh. Đến như cái dư luận nhao nhao, trong ý tiên sanh cho là không chánh đáng đó, mà tiên sanh biểu nên làm thinh đi, thì chẳng là trái với cái sơ tâm của người thức giả?

Theo tôi, bất kỳ cái dư luận nào, nếu là việc chung giữa xã hội, thức giả cũng chẳng nên làm thinh. Mình đã tự mạng là thức giả, thì phải đi kèm một bên dư luận luôn luôn. Không nên làm nô lệ cho dư luận, như lời tiên sanh đó, phải rồi; song tôi còn muốn tới một bước nữa, người thức giả phải làm hướng đạo cho dư luận.

Nói “hướng đạo”, thì nghe ra giọng đàn anh quá, có lẽ làm phật ý nhiều người. Tôi xin nói một cách dè dặt hơn mà rằng: Người thức giả phải làm “ngự sử” cho dư luận. Ở trong xã hội nầy, bất kỳ thấy việc gì trái, mình có ngôn trách thì phải nói, cũng như các quan ngự sử thấy ông vua có điều lỗi gì là phải can.

Trong những cái dư luận nhao nhao lên đó, cái nào mình can thiệp đến không tiện thì thôi, còn có thể can thiệp thì tôi tưởng bất kỳ việc lớn nhỏ, người thức giả đều nên can thiệp mà đính chánh lại. Có vậy mới mong cái bỡ ngỡ thành ra quen tay, cái non nớt thành ra già giặn, dư luận dần dần trở nên chánh đáng là nhờ đó; bằng chẳng vậy, trong xã hội ai cầu có những trang thức giả làm chi?

Coi đại ý cả bài thì thấy ra đối với dư luận, Phạm tiên sanh không muốn can thiệp. Mà cái ý kiến đó hiện nay cũng có nhiều người chủ trương. Ấy là cái thái độ tiêu cực. Cứ ngồi đó mà coi dư luận nó đi đường nào trối mặc, nó khôn hay nó dại thây kệ, rồi tự cao một mình, ôm bụng mà cười những cái bỡ ngỡ non nớt của nó, như vậy sao cho nỡ?

Tôi xem ý chừng như Phạm tiên sanh đối với dư luận lại còn hờn mát nữa. Từ ngày Nam phong mới ra đời tiên sanh hăm hở phê bình sách Giấc mộng con của ông Nguyễn Khắc Hiếu, bị một phái kia ác cảm, rồi tiên sanh nguýt một cái như cô Kiều, “cuốn giây từ ấy về sau xin chừa”! Sự ấy làm cho trong học giới có nhiều người thất vọng.

Cho đến bây giờ đây, tiên sanh cũng còn nói trong bài trả lời cho tôi rằng: “Nay muốn cho cõi học được vui vẻ sầm uất, không cần phải dùng đến những cách thanh đông kích tây, nay công kích người nầy mai phản đối người nọ, để làm một trò chơi cho khách bàng quan”.

Câu ấy chắc tiên sanh có chỉ vào người nào việc nào đó mà nói, song le bổn phận tôi không tìm tòi bới móc ra làm chi. Tôi chỉ xin nhắc lại cho tiên sanh

đừng có đánh xô bồ sự biện luận phải quấy với sự công kích riêng tây lại làm một. Nếu không hỏi đến bổn chất của những điều họ công kích phản đối nhau là thế nào, mà cứ một mực cho rằng đó là thanh đông kích tây đó, nay công kích người nầy mai phản đối người nọ đó, như vậy thật chẳng khác nào phơi thêm ra một cái tang chứng nữa cho người ta vin lấy mà khống cáo mình là mạt sát dư luận, chuyên chế dư luận.

Bỏ việc chánh trị ra ngoài không nói, chỉ nói những việc thông thường, thì tôi thấy hiện nay trong xã hội ta còn biết bao nhiêu điều chướng tai gai mắt. Rất đỗi có những lời ra từ các bậc thượng lưu trong xã hội mà cũng sai lầm trái ngược không thể nghe được. Những sự chướng tai gai mắt, sai lầm trái ngược đó, nó có hại cho xã hội chăng? Nó có phải do cái tinh thần học vấn bạc nhược như tiên sanh đã nói mà ra chăng? Quả vậy, thì nếu có người đứng ra mà công kích phản đối những điều đó, là có ích lắm chớ, là sự cần có lắm chớ, tưởng không nên đánh xô bồ mà mạt sát đi hết.

Cứ theo ngu ý tôi thì sự biện luận để mà phá tan những điều sai lầm đó là rất cần cho học giới ta ngày nay. Không có sự ấy thì cái nền “Quốc học” mà tiên sanh muốn được thành lập sau nầy, cũng không thể nào thành lập nổi. Bởi vì nước ta từ xưa đến nay đã chưa có cái học thuật gọi là chơn chánh, mà hầu hết người trong xã hội lại còn sống trong cái di độc của cái học khoa cử và của cái tư tưởng Tống nho. Đó là những đám chông gai mà chúng ta trước phải phát dọn đi rồi sau mới đem hột giống vãi lên được. Nếu trong khi có người ra công phát dọn chông gai ấy, tiên sanh lại mỉa rằng khéo làm trò chơi cho khách bàng quan, thì chẳng hóa ra tiên sanh cũng vẫn còn coi thường dư luận đó ư?

Tiên sanh nói rằng cái tinh thần học vấn của người mình quá bạc nhược. Xưa kia động ra thì giở ông Khổng, ông Mạnh, ông Chu, ông Trình, bây giờ động ra thì giở khoa học với luận lý, dân chủ với dân quyền. Rồi tiên sanh quyết rằng đó là nghe người ta nói mà nói theo, chớ vị tất đã hiểu cho đến chỗ tinh vi.

Thật thế, cái bịnh của sự học vấn người mình là ở chỗ đó. Trong sự học của ta xưa nay tuyệt nhiên không có cái quan niệm “cầu chơn”, không cố tìm cho thấy lẽ thật. Nay muốn chữa cái bịnh ấy, tôi thiết tưởng chẳng có phương thuốc gì thần diệu bằng sự biện luận. Bởi vì sự cãi cọ nẩy ra ánh sáng của chơn lý.

Nói về sự học của cá nhân, còn có nhiều đường; chớ nói về sự học của một bọn người, của một dân tộc thì ngoài sự biện luận ra, chẳng có tìm cái sự học vào đâu được cả. Trái với tiên sanh, tôi lại thấy rằng cái quang cảnh vui

vẻ sầm uất trong cõi học là hiện ra ở chỗ đó. Chỉ tại mình đừng đánh xô bồ mà coi nó là sự công kích tây riêng thế thôi, chớ sao lại “không cần”?

Muộn quá, đến đây tôi mới nhập đề. Cũng vì phải giãi bày những lẽ trên kia đã rồi mới nhập đề được.

Cái ý kiến của tiên sanh muốn lập một hội kêu bằng “Chấn hưng quốc học” đó, theo tôi, tôi tưởng ta chưa làm được; mà cái hội ấy hình như cũng không cần có nữa. Nhơn rốt bài của tiên sanh, có lời hạ vấn đến tôi, tôi phải trực trần ý kiến, xin chớ ai thấy mà trách tôi: làm không làm, lo phá đám!

Trước hết xin gạn hỏi cái tên hội mà tiên sanh phỏng định ra đó. Phàm cái gì từ trước đã có sẵn rồi mà sau suy bại đi, mình muốn làm cho nó hồi phục lại cái quang cảnh cũ, vậy mới nói là “chấn hưng” được. Cái nầy nền “Quốc học” của nước ta, tiên sanh đã nhận rằng từ xưa chưa có, mà tôi cũng từng nhận như vậy, thì sao gọi được là “chấn hưng”?

Nhưng cái điều không quan hệ đó hãy bỏ qua đi. Bây giờ tôi xin cắt nghĩa tại sao mà ta chưa làm được.

Giả sử ngày nay ta có một cái hội về tánh chất học vấn như vậy thì nó lại còn sanh ra nhiều vấn đề khó khăn hơn các hội khác nữa kia. Nói nội một cái tư cách người vào hội, thì chúng ta sẽ căn cứ vào đâu? Hội đó chắc sẽ phải lấy tinh những hội viên bằng nhà văn học; song ở nước ta bây giờ đây, theo cái chuẩn đích nào mà chỉ cho người nầy hay kẻ kia là nhà văn học được? Đã vậy thì trong xã hội e không khỏi có người lạm dự. Mà đã lạm dự thì sẽ sanh ra lắm cái hiện tượng hiểm nghèo lắm: Một là đối với cái nghị án nào cũng vâng vâng phải phải hết, thì có ích chi? Hai là cãi bướng cãi ngang, như cãi rằng: “Chữ quốc ngữ viết thế nào hiểu được thì thôi”, rồi còn kiện với ai được nữa!

Nội chừng nấy đó đã đủ cho ta dự liệu rằng sự lập hội về văn học là sự ở ta đây làm chưa được. Huống chi, theo ngu kiến tôi lại là sự không cần.

Sự lập hội như vậy ở các nước có nhiều lắm. Ở Nhựt Bổn, những hội ấy, họ kêu chung là “văn nghệ đoàn thể”. Vì trong nước họ nhà văn học đông đúc lắm. Rồi tựu trung, những người nào đồng một nghệ nghiệp, đồng một khuynh hướng mới cùng nhau lập riêng một hội, như làm thơ thì có hội làm thơ, phê bình thì có hội phê bình, để mà quan ma tư ích [1] cho nhau. Ở bên Tàu, trong khoảng hơn mười năm nay cũng có nhiều hội có tánh chất về văn học nổi lên như vậy.

Chúng ta thật không nên dối mình. Cái giống chi, chớ cái giống văn học ở nước ta hiện nay thiệt còn hiếm quá. Bây giờ đây, ta cần phải nhen nhúm dần dần cho mỗi ngày một đông nhiều ra, rồi mới mong được có sự lập hội như các nước ở ngày sau.

Cái gì thì nên hiệp lại, chớ sự học thì lại nên chia ra. Nhờ chia ra phái nầy phái khác mà đối địch cùng nhau, rồi sự học mới mau tấn bộ ; chớ còn hiệp lại, làm cho cái tư tưởng cả nước phải ở dưới một cái quyền nhứt thống nào, thì thật là bất lợi, vì cái tư tưởng sẽ cầm chừng lại một chỗ mà không nẩy nở ra được. Vậy nếu ta đây có một cái hội, dầu cái mục đích không phải chấn hưng mà là sáng tạo một nền quốc học đi nữa, thì tôi cũng sợ cho cái hội ấy sẽ giảm tư tưởng của quốc dân, nên tôi nói là không cần.

Tôi đã không đồng ý kiến với ông Phạm về sự lập hội, mà tôi cũng đã theo gót ông đề xướng rằng lập cho nước ta một nền học thuật, thì tôi phải có cái hoài bão của tôi, tôi phải có cái chương trình của tôi. Vậy tôi xin giãi bày cái ý kiến riêng của tôi như sau nầy.

Muốn cho đạt được cái mục đích ấy, theo tôi, bây giờ ta nên dụng công cả vừa hai phương diện. Một là về phương diện phá hoại; một là về phương diện kiến thiết.

Tùy theo con mắt tôi thấy, trong nước ta đây, cái gì tôi cho là cái tư tưởng hủ bại, không hiệp với thời đợi, tức là cái di độc của khoa cử và của Tống nho, thì tôi nguyện tảo trừ đi cho sạch. Cùng trong lúc đó, tôi biết cái gì là hay, là phải, bất luận của đời xưa đời nay, phương Đông phương Tây, tôi xin đem mà cống hiến cho mọi người. Trong khi cống hiến một cái gì đó, tôi phải biết cái ấy cho tới đầu tới đuôi, đến nơi đến chốn, mà nói ra một cách rất phân minh có thống hệ. Nhứt là cái tệ “nghe người ta nói, mình cũng nói, vị tất đã hiểu đến chỗ tinh vi”, mà ông Phạm Quỳnh chế bác đó, tôi phải hết sức chừa đi.

Tôi xin nói luôn rằng muốn làm được công việc đó thì trước hết tôi phải trau dồi cái lợi khí của tôi cho thêm bén sắc, tức là phải dụng công về chữ và văn quốc ngữ. Chữ phải viết đúng, đừng để cho kẻ khác có thể hiểu lầm; văn phải viết cho thật đâu ra đó như cái tờ giao kèo hay lời quan tòa kết án; đào đất mà chôn những cái giọng văn khoa cử ngày xưa đi cho tuyệt. Tôi chưa thi hành cho như ý được, song cái chương trình của tôi, đại lược như trên đó, thì đã nhứt định rồi. Lại đồng thời tôi cũng đem cái chương trình của tôi đó mà cống hiến cho những người có học trong nước. Tùy ý ai có cho là thích hạp với mình thì cứ việc dùng.

Nói rằng: “lập một nền học thuật mới riêng cho người Việt Nam”, hay là nói “lập một nền quốc học”, những danh từ đó cần phải có giải thích. Nói “lập” đó, chẳng phải là do ý chí và công cán của một vài người. Trong chữ “một nền” cũng không có cái nghĩa đơn độc và thuần nhứt. Vả lại việc ấy mà có thành ra nữa cũng phải trải qua một thời kỳ lâu lắm, chớ chẳng phải hễ lập ra thì được ngay. Tôi thử tưởng tượng ra một cái lịch trình như vầy:

Giả đò cái chương trình của tôi đó là thích dụng cho phần nhiều người háo học trong nước, họ cũng theo cái chương trình ấy mà làm như tôi. Mỗi người lại theo phương pháp mà tự do nghiên cứu về môn học nào mà mình ưa thích. Sau khi nghiên cứu được cái gì, đem mà cống hiến cho học giới, thì những người khác tham gia vào mà thảo luận, như ông Trần Trọng Kim cùng tôi thảo luận về Khổng giáo vừa rồi đó. Làm như vậy, chẳng những giục giã cho kẻ học phải càng ngày càng nhắc cái trình độ học vấn mình lên cao, mà cũng khiến cho nhứt ban xã hội nô nức vì cái hứng thú của sự học. Rồi dần dần những người tự do nghiên cứu thêm đông ra, những học thuyết thêm nhiều ra, tư tưởng nầy cọ với tư tưởng kia, học thuyết nầy đánh với học thuyết nọ, cái nào không thích hạp với thời đợi thì tiêu đi, cái nào thích hạp thì còn lại; những cái còn lại đó sẽ được kêu chung là “một nền quốc học”.

Cái nền quốc học ấy là tổ hiệp, không phải đơn độc; là phức tạp, không phải thuần nhứt. Nó sẽ được thành hình ra trong năm bảy mươi năm hay là một trăm năm sau nữa, nếu chúng ta bắt đầu làm cho nó đậu thai từ ngày nay.

Cái kế hoạch (projet) của tôi đó không luận hay dở thế nào, nó là một cái kế hoạch, vì tôi phô bày ra một cách cụ thể cốt cho rõ ràng để nghe. Theo cái kế hoạch ấy thì sự biện luận rất cần cho ta ngày nay, chẳng những về sự học vấn mà thôi, cho đến mọi việc thông thường cũng vậy nữa. Cho nên trong bài này tôi phải để dành một phần lớn, coi là trọng yếu, mà biện nạn với ông Phạm Quỳnh về cái thái độ tiêu cực đối với dư luận, tôi quyết mời ông ra can thiệp tới dư luận, không chịu ông làm thinh.

Tôi chủ trương rằng ta phải tích cực mà đối với các cuộc biện luận. Vì theo cái kế hoạch tôi, về phương diện phá hoại về phương diện kiến thiết, ta đều phải cần dùng tới nó cả.

Tôi nhiều khi được tiếp chuyện các ông có học thức, thấy ông nào cũng phàn nàn rằng người Việt Nam ta rất kém hay là không có cái óc phê bình (esprit de critique). Nay muốn nuôi cái óc ấy thì đối với dư luận rất không nên hướng về tiêu cực.

Cái óc phê bình không có, nghị luận không rành, thì dầu cho ở trong một cái hội nào, được tự do bàn bạc, cũng chỉ vâng vâng, phải phải mà thôi. Cho nên, nếu muốn thiệt hành cái ý kiến lập hội của ông Phạm Quỳnh, lại càng cần phải luyện tập sự biện luận.

Phụ nữ tân văn, Sài Gòn, số 70 (18.9.1930)

Ngày 21 tháng 11 năm 2011

Dương Thị Phương Hằng và Vũ Trọng Khanh AKA ( tự là ) Đại Tá Vũ Lăng Biện Luận về Ngôn Ngữ Việt – bài 2

Khi chúng tôi viết Biện Luận về Ngôn Ngữ Việt và chuyển tải bài viết của cụ Phan Khôi có nội dung và ý chính của cụm từ Biện Luận với cụ Phạm Quỳnh từ hơn 80 năm qua tại Hà Nội trên tờ Phụ Nữ Tân Văn, là chúng tôi có ý muốn gởi đến quý Diễn Đàn và quý Độc Giả một gợi ý về tinh thần Biện Luận của người Việt chúng ta ngày hôm nay đang sống tại Hải Ngoại. Như vậy, bài viết Biện Luận về Ngôn Ngữ Việt của chúng tôi, bài nghị luận của cụ Phan Khôi về Biện Luận khi viết đáp trả bài nghị luận của cụ Phạm Quỳnh và những thắc mắc cũng như phê phán của chúng tôi về vấn đề “ thử nghiên cứu chữ quốc ngữ bằng cái nhìn hoàn toàn Việt Nam” của tác giả Nguyễn Phước Đáng có rất nhiều liên quan ( dính dáng ) với nhau. Theo sự hiểu biết của chúng tôi thì Biện Luận chỉ có thể xảy ra khi có những thắc mắc. Không có thắc mắc đương nhiên không cần biện luận.

Theo ý tứ của cụ Phan Khôi thì người Việt chúng ta, những người trí thức cũng như tri thức , từ thuở xa xưa đã không biết Biện Luận và không có tinh thần Biện Luận cho nên AI NÓI GÌ cũng nghe và cũng tin một cách mù quáng do đó không mở mang được kiến thức và không phát huy được khả năng trí tuệ một cách toàn diện như những dân tộc khác trên thế giới. Đã như thế, theo thiển nghĩ của chúng tôi, người Việt chúng ta, những người trí thức cũng như tri thức, lại luôn thích chê bai người khác DỐT mà không bao giờ chịu nhận thức là mình DỐT. Khi một con người đã tự mãn với cái biết của mình thì con người đó đã trở thành ngu dốt bởi vì con người đó đã không cần và không muốn học hỏi thêm ngoài cái biết của họ.

Khi chúng tôi nêu lên những thắc mắc là bởi vì chúng tôi không hiểu tại sao ngày hôm nay phải cần có người đi làm cái công việc vô ích như thế?

Cụ Phạm Quỳnh, cụ Paulus Của hay cụ Nguyễn Bá Học, cũng như chúng tôi đều là những người Việt, nói tiếng Việt nghiên cứu chữ quốc ngữ theo mẫu

tự Latinh chứ không phải những người Pháp nói tiếng Việt. Như vậy, cái nhìn của chúng tôi về chữ quốc ngữ đương nhiên phải là cái nhìn hoàn toàn Việt Nam mặc dù chúng tôi có sở học của những người phương TÂY. Tại sao tác giả Nguyễn Phước Đáng có thể khẳng định một cách chắc nịch là chúng tôi chưa biết về chuyện “ chữ quốc ngữ ” và hàm ý cho rằng cụ Phạm Quỳnh, cụ Paulus Của hay cụ Nguyễn Bá Học và chúng tôi là những người ngoại quốc cho nên phải thông qua cái nhìn của người ngoại quốc và cái nhìn chữ nước ngoài rồi suy đoán rằng chữ quốc ngữ Việt Nam cũng phải theo ngữ pháp tiếng nước ngoài?

Chúng tôi biện luận về ý tưởng lệch lạc của tác giả Nguyễn Phước Đáng khi khẳng định rằng “ Rõ ràng tôi viết nghiên cứu chữ quốc ngữ, chứ tôi không viết nghiên cứu ngôn ngữ Việt.” Chúng tôi nhận thấy cái tinh thần thiếu lương thiện của tác giả Nguyễn Phước Đáng khi biện luận trên những vấn đề. Trước hết, chúng tôi phải nhấn mạnh rằng không một ai có thể nghiên cứu chữ quốc ngữ mà không nghiên cứu ngôn ngữ Việt hay không biết gì về ngôn ngữ Việt bởi vì chữ quốc ngữ là một dạng chữ Viết được tạo thành từ ngôn ngữ Việt. Theo định nghĩa của chúng tôi Ngôn là tiếng nói và Ngữ là chữ viết. Như vậy tất cả những ngôn ngữ trên thế giới đều phát xuất từ tiếng nói của mỗi dân tộc, từ cách phát âm để cấu tạo thành tiếng nói của dân tộc đó, sau cùng tiếng nói đó mới được hệ thống hóa để trở thành một bộ hay một dạng chữ viết cho tiếng nói đó. Việt ngữ cũng không đi ra ngoài nguyên lý trên. Như vậy, ngay trong tiền đề của lập luận tác giả Nguyễn Phước Đáng đã có cái nhìn rất lệch lạc.

Chúng tôi biện luận về ý tưởng lệch lạc của tác giả Nguyễn Phước Đáng khi hàm ý cho rằng ngành ngôn ngữ học tiếng nước ngoài ( tiếng Anh ) mà cá nhân tôi đã được học qua không “ thể áp dụng vô chuyện ngôn ngữ tiếng Việt. ” Một lần nữa chúng tôi muốn nhấn mạnh rằng ngôn ngữ học đã trở thành một ngành học bao quát và phổ thông (universal) bởi vì ngôn ngữ là lẽ sống của con người. Nếu không có ngôn ngữ con người sẽ bị hủy diệt. Tại sao những hiểu biết của chúng tôi về ngôn ngữ nói chung và Anh ngữ nói riêng lại không thể áp dụng được vào Việt ngữ ? Như vậy chứng tỏ rằng tác giả Nguyễn Phước Đáng chưa hề nghe qua hay đọc thấy cụm từ IPA ( International Phonetic Alphabet ) cho nên mới có những ý tưởng lệch lạc như thế. Chúng tôi khuyên tác giả Nguyễn Phước Đáng nên nghiên cứu qua cụm từ IPA trước khi nghiên cứu chữ quốc ngữ Việt.

Theo sự hiểu biết của chúng tôi và với cái nhìn của người Việt Nam thuần túy thì Anh ngữ có 5 nguyên âm: a,i,e,o,u và có 15 cách phát âm của 5 nguyên âm cộng thêm 21 phụ âm, mỗi phụ âm có những âm riêng có thể phát ra và cũng có thể không phát ra bởi vì đó là tiếng NÓI của người Anh và

Việt ngữ có 12 nguyên âm chứ không phải chỉ có 10 nguyên âm như tác giả Nguyễn Phước Đáng đã nghiên cứu: a,ă,â,e,ê,i,y,o,ô,ơ,u,ư và chỉ có 12 cách phát âm cộng thêm 17 phụ âm chính chứ không phải 25 phụ âm, mỗi phụ âm có những âm riêng có thể phát ra và cũng có thể không phát ra bởi vì đó là tiếng NÓI của người Việt. Tất cả những phụ âm không bao giờ được kể là những tử âm bởi vị phụ âm vẫn phát ra âm nhưng tiếng NÓI không bắt nguồn từ phụ âm mà bắt nguồn từ nguyên âm. Theo tác giả Nguyễn Phước Đáng Việt ngữ có 25 phụ âm và những phụ âm đều là tử âm (không phát ra âm, mà định vị cho tiếng của chữ viết) là hoàn toàn SAI bởi vì nhưng phụ âm của Việt ngữ cũng giống như những phụ âm của tiếng Latinh gồm có: b,c,d,đ,g,h,k,l,m,n,p,q,r,s,t,v,x nếu những phụ âm này không phát ra âm thì làm thế nào có thể định vị cho tiếng NÓI được.

Chúng tôi nhận thấy có sự mâu thuẩn trong ý tưởng lệch lạc của tác giả Nguyễn Phước Đáng khi muốn nghiên cứu về chữ quốc ngữ theo cái nhìn hoàn toàn của người Việt mà không thông qua cách nhìn của người ngoại quốc, nhưng trên thực tế ông NPĐ lại sử dụng nguyên tắc nhất quán để tạo mỗi chữ viết tiếng Việt của các nhà sáng tạo ra chữ Việt. Như vậy, quanh đi quẩn lại tác giả Nguyễn Phước Đáng cũng không nghiên cứu được cái gì cho ra hồn bởi vì người ngoại quốc sáng tạo ra chữ quốc ngữ là một dạng chữ VIẾT do họ phiên âm ra ( transcribe phonetically ) dựa theo những âm của mẫu tự Latinh mà họ đã có sẳn trong tiếng NÓI của họ, để cho dể học và dể nhớ chứ không phải chỉ có ghi âm mà sáng tạo ra được chữ VIẾT. Đây là cách làm việc của những người ngoại quốc bởi vì họ không biết NÓI tiếng VIỆT. Trong khi đó chúng ta là những người Việt biết NÓI tiếng Việt và biết phát âm ra bằng tiếng Việt tại sao phải quanh quẩn sử dụng phương cách này?

Từ cách nhìn toàn diện và phổ quát của chúng tôi thì chúng tôi tin rằng tác giả Nguyễn Phước Đáng chưa có đủ hiểu biết về tinh thần Biện Luận của cụ Phan Khôi viết cho cụ Phạm Quỳnh cho nên ông NPĐ mới dám mạt sát chúng tôi “ là cứ bo bo đem chữ của tiếng Anh để so sánh với chữ tiếng Việt, để mãi mãi là người dốt chữ Việt. (Tôi nói dốt chữ Việt chứ không phải nói dốt tiếng Việt)” Có ai biết chữ Việt khác với tiếng Việt như thế nào không nhỉ?

Chúng tôi rất thích phổ biến cũng như chia xẻ những hiểu biết của chúng tôi về ngôn ngữ học với những ai muốn biết thêm về cách phát âm, tại sao Việt ngữ không có phụ âm F, Z và W mà có phụ âm D và những phụ âm ghép chứ không phải phụ âm kép. Tại sao phải có diphthong và triphthong? Diphthong không có nghĩa là nhị trùng âm và triphthong cũng không có nghĩa là tam trùng âm. Tác giả Nguyễn Phước Đáng đã không có một chút

hiểu biết về ngôn ngữ học nên đã dịch SAI và hiểu SAI về cách phát âm của VIỆT NGỮ. Chúng tôi sẽ giải thích về DIPHTHONG và TRIPHTHONG cho những ai muốn biết về những chữ đó.

Chúng tôi xin được trở lại vấn đề chữ quốc ngữ với những ai muốn nghiên cứu thêm về chữ quốc ngữ và hiểu thấu đáo thế nào là Biện Luận. Chúng tôi không muốn biện luận với những người tự cho mình đã biết quá nhiều mà thực chất chưa biết gì cả và cứ thế mãi cho rằng người khác DỐT. Xin chào và kính chúc quý vị một mùa Giáng Sinh và một Năm Mới an bình và tốt đẹp.

Ngày 22 tháng 11 năm 2011

Dương Thị Phương Hằng và Đại Tá Vũ Lăng

Biện Luận về Ngôn Ngữ Việt, bài 3

Chúng tôi rất thương cảm khi đọc những lời tâm huyết của cụ Phan Khôi trong bài viết về ý tưởng của cụm từ BIỆN LUẬN mà cụ đã đáp trả cụ Phạm Quỳnh. Bởi vì chúng tôi hoàn toàn đồng ý với ý tưởng của cụ Phan Khôi cho nên chúng tôi mới tiếp tục viết về đề tài này. Thật lòng mà nói, chúng tôi không hứng thú chia xẻ những hiểu biết của chúng tôi với một con người có thái độ ngạo mạn và bất thân thiện như ông Nguyễn Phước Đáng.

Ông Nguyễn Phước Đáng đã hiểu SAI về hai cụm từ phiên âm và ghi âm trên lãnh vực ngôn ngữ học. Phiên âm dịch ra Anh ngữ: Transcribe phonetically và phiên âm không có nghĩa là ghi chú cái âm của chữ nước ngoài bằng ký hiệu của mình để mình đọc được chữ nước ngoài đó bởi vì ý nghĩa của cụm từ Anh ngữ Transcribe phonetically là viết lại những cái âm của các từ vựng nghe được bằng ÂM NGỮ QUỐC TẾ ( IPA) mà bất cứ ai đã học qua cách phát âm đều có thể đọc được; Ghi âm dịch ra Anh ngữ: Record the sound. Một khi chưa biết phiên âm thì làm thế nào biết cách ghi âm? Hơn nữa muốn biết cách ghi âm thì phải biết phiên âm và muốn biết phiên âm thì phải biết về ÂM NGỮ HỌC. Từ xưa tới nay tất cả mọi người Việt, học giả cũng như thức giả đều nói SAI khi cứ mãi tin rằng người Việt sử dụng rất nhiều Hán tự và đã phiên âm các Hán tự đó ra thành chữ Việt. Cho tới bây giờ mà mọi người Việt vẫn cứ tưởng là ĐÚNG. Chúng tôi nhận thấy người Việt đã đọc các Hán tự trại ra theo âm hưởng của người Việt chứ không hề biết phiên âm là gì. Bất cứ người ngoại quốc nào muốn học bất cứ một ngoại ngữ nào đều phải biết phiên âm theo tiếng NÓI của ngoại ngữ đó để phát âm

cho đúng. Khi người Pháp trí thức hay người Mỹ trí thức học tiếng Việt ( chứ không phải học chữ Việt ), họ không phiên âm theo kiểu của ông Nguyễn Phước Đáng mà họ phiên âm theo ÂM NGỮ QUỐC TẾ ( IPA). Chỉ có những người Pháp hay người Mỹ đầu đường xó chợ ( street people ) mới phiên âm tiếng Việt theo cách của ông Nguyễn Phước Đáng. Dưới đây là một thí dụ về phiên âm trong ngôn ngữ học của Anh ngữ. Nếu như chúng tôi không biết tiếng Anh mà biết ÂM NGỮ QUỐC TẾ chúng tôi vẫn đọc được như thường.

small English texts

A snapshot of what is to follow: summarize all the key information to convince the reader that this project should be considered for support. Be certain to include a brief statement of the problem or need, a short description of the project, including what will take place.

phonetic transcriptions in the International Phonetic Alphabet (IPA).

| ə ˈsnæpʃɒt əv wɒt s tə ˈfɒləʊ | ˈsʌməraɪz ɔːl ðə kiː ˌɪnfəˈmeɪʃn̩ tə kənˈvɪns ðə ˈriːdə ðət ðɪs prəˈdʒekt ʃəd bi kənˈsɪdəd fə səˈpɔːt | bi ˈsɜːtn̩ tu ɪnˈkluːd ə briːf ˈsteɪtmənt əv ðə ˈprɒbləm ɔː niːd | ə ʃɔːt dɪˈskrɪpʃn̩ əv ðə prəˈdʒekt | ɪnˈkluːdɪŋ wɒt wl teɪk ˈpleɪs |

Chúng tôi đã lập đi lập lại rất nhiều lần là các Giáo sĩ ngoại quốc khi học tiếng Việt phải phiên âm bởi vì họ là người ngoại quốc còn chúng tôi là người Việt biết nói và phát âm bằng tiếng Việt do đó chúng tôi không cần phải phiên âm và cũng chẳng cần phải ghi âm.

Những giáo sĩ ngoại quốc sau khi học nói thông thạo tiếng Việt bằng phiên âm và ghi âm mới kết luận rằng tiếng Việt phát âm như thế nào thì NÓI như thế nấy khác với tiếng Pháp, tiếng Bồ, tiếng Tây ban Nha, tiếng Mỹ v..v.. Do đó mà họ đã ghi nhận rằng Tiếng NÓI của người Việt là những ký âm bởi vì họ đã ghi âm giống như theo cách phát âm. Thí dụ: Tiếng Việt nói : O+I= OI; Tiếng Pháp nói:

O+I = OA.

Như vậy chứng tỏ rằng không riêng gì ông Nguyễn Phước Đáng mà gần như tất cả mọi người Việt đều HIỂU SAI về ngôn ngữ nói chung và tiếng Việt nói riêng, cái tiếng mẹ đẻ của mình mà còn chưa thông thì làm sao có thể bảo tồn được Văn Hóa của tổ tiên.

Tiếng Việt sử dụng con chữ A,B,C…..theo mẫu tự Latinh. Người Pháp đã gọi những con chữ đó là những con chữ CÁI bởi vì không có những con chữ CÁI đó thì không phát âm ra được và sẽ không có tiếng NÓI. Tại sao ngày xưa người Việt đặt tên gọi những mẫu tự A,B,C là những con chữ? Cái gì cũng có nguyên nhân của nó. Ngày xưa dưới thời Pháp thuộc, khi những ngườiViệtlàmthợin (ấnloát)trongcácnhàin(ấnloát)sáchbáocủa Pháp. Họ không biết chữ cho nên khi phải lắp ráp chữ để sắp vào máy họ đã gọi những mẫu tự đó là những con chữ. Có nghĩa là ráp con chữ này với con chữ kia thì ra cái chữ mà họ trông thấy. Tất cả các mẫu tự Latinh đều là những con chữ CÁI chứ không phải chỉ có những nguyên âm mới được gọi là những con chữ CÁI. Do đó nguyên âm không phải là một ký tự và cũng không thể ghi được một lời nói. Một từ vựng là một ký tự nhưng chưa phải là một lời nói bởi vì một từ vựng không nhất thiết phải có ý nghĩa mà một lời nói phải có ý nghĩa. Thí dụ: CH+ON là một từ vựng nhưng không có ý nghĩa cho nên không phải là một LỜI NÓI; U đứng một mình chưa phải là một LỜI NÓI nhưng nếu U đứng với M+À+Y hai từ vựng này là một LỜI NÓI.

Chúng tôi rất thắc mắc tại sao ông Nguyễn Phước Đáng không chịu khó bỏ công học hỏi thêm về Ngôn Ngữ học trước khi đi làm cái công việc nghiên cứu chữ Việt để không bị vướng mắc vào những SAI LẠC to lớn như thế ? Ngày xưa ở Sàigon cũng có một người không học tới đâu, tên là Lê Ngọc Trụ cũng nghiên cứu chữ Việt SAI ơi là SAI thế mà cũng có nhiều người khen lấy khen để. Bởi vì ông Nguyễn Phước Đáng hiểu SAI về nguyên âm nên đã định nghĩa SAI khi cho rằng tiếng Việt chỉ có 10 nguyên âm. Chúng tôi khẳng định rằng a, ă, â là nhưng nguyên âm bởi người Việt NÓI và phát âm những chữ sau đây:L+À+M, L+Ằ+M BẰM, CẦM NHẦM. Như vậy ă, â là những con chữ CÁI phát ra âm từ cuốn họng trong tiếng NÓI của người Việt chứ không phải do sự suy đoán mà thành. Hai âm thanh của hai con chữ â và ớ hoàn toàn khác nhau. Phải học ÂM NGỮ QUỐC TẾ mới phân biệt được hai âm thanh đó. Tổ tiên ta đã dạy NHÂN BẤT HỌC BẤT TRI LÝ quả thật không SAI. Nếu hai âm thanh của hai con chữ â và ớ đọc giống như nhau thì mắc mớ gì mà phải có hai con chữ khác nhau. Nghiên cứu của ông Nguyễn Phước Đáng chỉ dựa trên suy đoán nên hoàn toàn SAI.

Theo định nghĩa của Bán Nguyên Âm: những âm phát ra không trọn vẹn và có thể được sử dụng như một phụ âm. Mẫu tự Latinh chỉ có 2 bán nguyên âm: Y (yes, you,yellow) – W(water, waiter, wonder). Tiếng Việt không có BÁN NGUYÊN ÂM bởi vì theo định nghĩa I+Ê, U+Ô, Ư+Ơ không thể được sử dụng như những phụ âm.

Chúng tôi đã tốn rất nhiều năm công phu học về Ngôn Ngữ Học nói chung và nghiên cứu rất nhiều ngôn ngữ trên thế giới và khi nghiên cứu chúng tôi bắt buộc phải so sánh ngôn ngữ này với ngôn ngữ kia chứ không thể tự tiện suy

đoán theo kiểu của ông Lê Ngọc Trụ và ông Nguyễn Phước Đáng. Chúng tôi khuyên ông Nguyễn Phước Đáng nên bỏ công học hỏi trước khi đi làm công việc nghiên cứu. Nếu không làm được thì chỉ là công cốc mà thôi.

Viết thêm cho bà Dương Thị Phương Hằng và Đ/t Vũ Lăng.

1) Trước hết, tôi muốn phân biệt từ phiên âm với từ ghi âm.

Phiên âm là ghi chú cái âm của chữ nước ngoài bằng ký hiệu của mình để mình đọc được chữ nước ngoài đó. Phải có chữ của một thứ tiếng rồi, khi học thứ tiếng đó, mình không nhớ cách phát âm cho đúng, nên tìm cách ghi lại cách nào đó để sau đọc lại cho đúng.

Thí dụ người Pháp học chữ Việt, họ phiên âm bằng tra-ung bên cạnh chữ trong, để đọc đúng được chữ trong của tiếng Việt, phiên âm tăi để đọc đúng giọng chữ tay của tiếng Việt…

Ghi âm là dùng ký tự để ghi lại tiếng nói của một dân tộc. Chữ ghi âm là một thứ chữ của tiếng nói một dân tộc. Còn phiên âm không phải là một thứ chữ. Không ai viết văn thư, sáng tác thơ văn…bằng chữ phiên âm cả. Có thể mỗi người có cách phiên âm riêng, không ai giống ai. Học chữ Anh, người ta học những ký hiệu phiên âm quốc tế (thống nhứt cách phiên âm). Cũng có người dùng ký hiệu phiên âm quốc tế để học các thứ chữ khác nữa.

Vậy gọi chữ quốc ngữ (chữ Việt) là thứ chữ phiên âm là SAI.

2) Mỗi một thứ chữ có số nguyên âm khác nhau. Tôi định nghĩa, nguyên âm là là 1 ký tự, chữ cái, tự nó đã ghi được 1 lời nói, nghĩa là tự nó đã là một chữ rồi. Theo định nghĩa đó thì chữ Việt có 10 nguyên âm: a, e, ê, i, o, ơ, ơ, u, ư và y. Còn ă và â tự nó không là 1 chữ (người ta viết Á-châu, chứ không viết Ă-châu, người ta viết ú-ớ, chứ không viết ú-â). Tôi quan sát thấy ă, â chỉ có 2 công dụng trong việc tạo chữ (đứng đầu chữ và đứng giữa chữ), nên tôi gọi đó là bán nguyên âm (1⁄2). Iê, uô, ươ cũng có công dụng tạo chữ giống như ă và â. Nên tôi cũng gọi chúng là bán nguyên âm. Chúng do 2 chữ cái (ký tự) ghép lại nên tôi gọi là bán nguyên âm kép. Mỗi nguyên âm trong chữ Việt chỉ có một cách phát âm chứ không phải chỗ nầy phát âm thế nầy, chỗ kia phát âm thế khác.

Nghiên cứu chỉ phần nguyên âm thôi như vừa trình bày cũng đủ thấy cách nghiên cứu của tôi khác xưa, và bằng cái nhìn hoàn toàn Viêt Nam, không chịu ảnh hưởng của cách nhìn của các nhà ngôn ngữ ngoại quốc. Dĩ nhiên, nhìn cách cấu tạo chữ Việt như tôi nhìn chưa chắc được mọi người chấp nhận

3) DTPH cứ bo bo theo cái nghiên cứu chữ Anh, chỉ có 5 nguyên âm a, e, i, o, u, rồi cứ kéo chữ Việt về phía đó. Hai thứ chữ khác nhau!

4) Chữ Việt có 25 phụ âm: b, c (k), ch, d, đ, g, gi, h, kh, l, m, n, ng, nh, ph, qu, r, s, t, th, tr, v, x.

5) Chữ Anh chỉ có 17 phụ âm. Hai thứ chữ khác nhau. Vậy mà DTPH cứ bo bo đòi kéo chữ Việt về phía đó!

6) Phụ âm còn có 2 cách gọi nữa là âm kề (phải đứng kề chánh âm, hoặc trước hoặc sau) và tử âm. Gọi là tử âm vì nó không được phát ra tiếng trong chữ. Phát âm chữ ta, người ta sửa soạn phá âm tơ, nhưng chưa phát ra tiếng tơ thì đã nhập âm a rõ ràng vào, nên khi ra chữ ta rồi, mà ta không nghe tiếng tơ trong đó [nó đã bị chết (tử) khi chưa kịp thở] Tất cả phụ âm của chữ Việt đều là vậy, dù nó đứng kề phía trước hay phía sau.

7) Phụ âm giúp định vị tiếng của một chữ. Chúng ta có các chữ na, ma, cha, nha, nga, la… Chánh âm của các chữ đó đều là a. Nhờ 6 phụ âm n, m, ch, nh, ng, l định vị cái tiếng của các chữ đó mà mình phân biệt được 6 tiếng khác nhau na, ma, cha, nha, nga, la.

8) Tôi bỏ công ra nghiên cứu chữ quốc ngữ để làm gì? Vô ích chăng? Lúc đầu tôi chỉ tò mò tìm xem ngưởi xưa đã sáng tạo ra chữa quốc ngữ bằng cách nào. Không thấy sách vỡ nào chỉ cho tôi biết điều đó. Tôi đành mò mẫm một mình bằng cách mua mấy bộ chữ cái rời của con nít mới học. Tôi ngồi ghép chữ cái nầy với chữ cái kia, và nghĩ suy. Cho đến một lúc (mất chừng 4 năm) tôi tìm ra được 12 cách thành tạo các chữ viết Việt ngữ. Tôi quay ngược lại để tìm ra nguyên tắc căn bản để thành tạo các chữ đó. Sau cùng tôi tìm được nguyên tắc nhất quán nầy “ráp 2 âm lại thành một âm mới”. Cứ làm như vậy mà ghi được tất cả lời nói của người Việt. Tôi phải mất thêm 2 năm nữa mới khám phá ra cái nguyên tắc bao trùm nầy. Tôi nghĩ mỗi người Việt biết được chữ Việt cấu tạo đơn giản như vậy thì hay biết bao. Dạy và học sẽ dễ dàng biết bao, nhứt là dạy cho người ngoại quốc. Tôi nghĩ dạy người lớn ngoại quốc chỉ cần chừng 1- 2 tháng thì họ đọc và viết được chữ Việt. Còn con em VN từ 6 tuổi, nếu dạy theo lối xưa cần 3 tháng mới đọc và viết được, bây giờ hiểu thấu, và dạy theo cách nghiên cứu của tôi, thì chỉ cần

2 tháng thì đạt được kết quả như vậy, mà dạy rất dễ, con em sẽ đọc đúng chuẩn những chữ hoà âm nữa.

Thưa quí vị độc giả quan tâm. Tôi đang lần lượt phổ biến những gì tôi nghiên cứu ra trên DĐ Ngôn Ngữ Việt, cũng gần tới chỗ tôi ghi ra 12 cách tạo ra 6.000 chữ đơn quốc ngữ.

Mong quí vị theo dõi. Thưa ông Đ/t Vũ Lăng, Thưa bà DTPH,

Tôi chân thành xin lỗi 2 vị về câu viết quá lời của tôi, đã cho rằng 2 vị dốt chữ Việt. Thưa, hai vị viết được như vậy trên DĐ thì đâu thể gọi là dốt tiếng Việt, chữ Việt. Nhưng về nghiên cứu cách thành tạo chữ Việt thì hai vị chưa đi được bước nào ngoài những gì hai vị đọc được của người xưa và người ngoại quốc thôi.

Tôi sẽ không tranh luận (biện giải) với hai vị nữa, vì chúng ta kẻ nhìn hướng nầy người nhìn hướng kia làm sao tranh luận được. Tôi đã tranh luận chuyện nầy từ 6 năm nay, đã điều chỉnh nhiều lần những gì mình nghiên cứu. Tôi vẫn lắng nghe những chỉ dẫn của độc giả để tiếp tục điều chỉnh thêm. Rất tiếc hai vị chưa giúp tôi được chỗ nào.

Kính,

Nguyễn Phước Đáng.

Trả lời

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất /  Thay đổi )

Google photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google Đăng xuất /  Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất /  Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất /  Thay đổi )

Connecting to %s