Mái trường thầy Khổng.

cua-khong.jpg

Nay, trên tràn ngập các diễn đàn, chúng tôi thấy người ta chửi ông Khổng. Người ta nói rằng ông Khổng làm thui chột óc sáng tạo, tư duy phản biện của học trò Trung Quốc, hay ông Khổng làm nên sự nghèo nàn của  cả khối Á Đông. Chúng tôi thử làm một cuộc “mổ băng” xem sự thực có phải như thế không.

Tự do ngôn luận.

Khổng không dạy học theo lối tín chỉ bắt buộc.  Giáo sư Creel nhận xét: “He was not teaching certain subjects, but certain students” (C.C76). Ông không dạy một số mệnh đề trừu tượng gửi cho lý trí phổ quát, nhưng ông chỉ nhằm đào tạo con người toàn diện sống trong những hoàn cảnh đặc biệt. Chính vì thế mà Gusdorf sánh với lối uấn cảnh khác với lối giáo dục nặn đồ gốm của Tây phương xưa nhằm sản ra từng loạt người y như nhau (Pourquoi des professers p.64). Như thế là hợp với nguyện vọng của Einstein khi ông viết “La connaissance est une chose inanimée l’école est au service des vivants”.

Ông nói: <<Nếu một học trò không luôn luôn hỏi: “Phải làm thế nào cho hợp?” thì quả thiệt tôi (Khổng Tử) cũng không biết phải làm gì cho hắn.>> (La Pensée Chinoise de Confucius à Mao-Tseu-Tong, Payot, 1955, p. 56)

Thầy là hướng đạo, còn vai chính là trò. Trò phải khởi sự, phải có óc sáng kiến, phải đặt vấn đề, phải tự tìm chân lý vừa tâm trạng của mình.

Thầy Khổng còn tự do ngôn luận hơn. Khi thấy thầy Khổng đi chơi nhà bà Nam Tử, đám học trò giật gấu, bảo thầy sao được làm vậy. Vì sao họ dám cản thầy? Vì  sinh viên hàng ngày học hành với thầy Khổng trong một bầu không khí rất chi là dân chủ.

Trong khi đó, ở mái trường Hy Lạp, do học trò không có quyền cãi lại thầy giáo, nên nạn quan hệ đồng tính nam giữa thầy và trò diễn ra. Đến mức nó được đưa lên tầm lý luận: Anh học trò nào được thầy dạy mình giao phối với thì coi như được truyền cho tri thức. Chính Hy-Lạp mới là nơi không được thảo luận cho nên những vấn đề rõ mười mươi lại bị tấm màn mù mịt che khuất mất.

Lối xuất hành.

Bên Đông, thầy Khổng và học trò đi đường, ra chợ, lên khe suối…Gặp vấn đề gì thì trò chỉ tay hỏi, thầy ứng biến và trả lời ngay. Đây là lối học rất động.

Trong khi đó, bên Hy-Lạp, trò phải đến trường ốc của thầy. Chưa nghe nói trường hợp vi hành nào như vậy. Lối học của máy trường La-Hy rất tĩnh, vì là lối học lý niệm.

Do đó, trường của La-Hy, dịch sang Đông phương là “đại học”, chẳng qua lấy của ông Khổng để đặt tên cho một thứ thấp cấp hơn.

Nói Khổng gây ra sự chậm tiến, ù lì cho Đông Phương  thì chẳng qua là một lối nói lấy được, hoặc nghe người ta nói thế thì mình cũng bảo là thế.

Vấn đề tài chính.

Về vấn đề tài chính, theo mô hình tổ chức đại học ngày nay, thực chất là tổ chức theo mái trường kiểu La-Hy, người không có tiền không được đi học. Số con nhà nghèo được học bổng chỉ là số ít loại trừ, còn biết bao nhiêu người công nhân, bao nhiêu người lao công, bao nhiêu thợ thuyền nhanh trí, muốn đến trường một ngày mà chẳng ai cho.

Trường học của Khổng tự chủ tài chính. Có đệ tử đi học nhưng nghèo quá, không có tiền bỏ dở giữa chừng, Khổng bảo: “Sao không nói sớm”. Ý là, ai đến học Khổng thì cùng các bạn đồng môn góp tiền nuôi thầy, cơm cháo qua ngày thì đều được học. Còn bây giờ, nếu bạn không có tiền đóng học phí theo kỳ, ai cho bạn tiếp tục học đại học?

Ở làng quê Việt Nam, thuở xưa có thầy đồ làng. Con nít trong làng đến nhà thầy đồ học. Các bà mẹ, ai có gì thì đem cho thầy đồ cái đó, khi thì củ sắn, khi thì củ khoai, thành ra trẻ em ngày xưa không có đứa nào không biết chữ, trừ đứa cứng đầu không chịu đi học. Nho gia đã giải quyết vấn đề mù chữ trong các làng quê một cách lặng lẽ, không ồn ào.

Tất nhiên, mỗi thời mỗi khác. Thời nay, ta không thể áp dụng lối thầy đồ xưa. Nhưng ta có thể vận dụng một cách sáng tạo. Ví dụ, giáo dục miền Nam Việt Nam cho các cô nữ sinh học hết lớp 9 đi dạy trẻ trong làng, gọi là cô giáo làng, một danh từ đầy tình thương.

Mái trường thầy Khổng, chưa nghe thấy có ai bỏ học bao giờ. Sinh viên càng già càng học hăng say, thể hiện qua Mạnh Tử, Vương Dương Minh… Mái trường của thầy Aristote, sinh viên bỏ học, và vô số tệ nạn kèm theo.

Xét cả về hai yếu tố, tự do ngôn luận lẫn tài chính, bạn đọc thử cân nhắc, mái trường của thầy Khổng so với nền giáo dục của thầy Aristote, cái nào hay hơn, dở hơn.

Mái trường thầy Khổng.

Ngày nay, mái trường của thầy Aristote, sinh viên ra trường trở thành các luật sư, tiến sĩ, các chủ tòa soạn báo lớn, có bằng cấp, tài chính, nên phát tán các tài liệu chửi mái trường của thầy Khổng, lại có cơ bắp, quân sự vùi dập các Nho gia đến nỗi không ngóc đầu lên được.

Đó là ở Trung Quốc. Ở Việt Nam, ai khen ngợi ông Khổng đều bị coi như là phản quốc. Ít ai biết rằng ông Khổng thuộc dòng Việt. Nữ Oa, Thần Nông đều là người Việt, vì nếu người Hán thì sẽ gọi là Oa Nữ, Nông Thần. Ai quan tâm?

Nho gia thất thế không phải vì Nho gia yếu. Người thiết kế hệ thống máy tính cho cả nước Trung Quốc (1987) là một Nho gia Việt Nam. Nho gia tạm thời thất thế vì Nho gia chủ trương  bơm chất liệu yêu đời (lạc chi) cho một cuộc sống đầy vô lý (tri chi) này. Nếu Nho gia cổ vũ phát triển các loại binh khí, thì nhân loại liệu có tồn tại được đến bây giờ?

Những Nho gia chân chính nhất đang sống ở Việt Nam: “Khoan nhu dĩ giáo, bất báo vô đạo. Nam phương chi cường dã, quân tử cư chi”

Chúng tôi, những Nho gia cuối cùng còn sót lại trên địa cầu, bỏ tiền túi đi mua từng cuốn Cửa Khổng để gửi cho bạn bè, với ý định mời họ vào ngôi nhà của Nho gia chúng tôi, mở Cửa Khổng để bước vào một ngôi nhà mà mình lâu nay chỉ toàn nghe nói.

Nếu bạn đọc và đồng ý với bài viết này, xin hãy cho tác giả của nó một lời động viên.

Ngày 09 tháng 02 năm 2020.

Tôn Phi.

Liên lạc tác giả: tonphi40@gmail.com

Trả lời

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất /  Thay đổi )

Google photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google Đăng xuất /  Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất /  Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất /  Thay đổi )

Connecting to %s