Phân tích bài thơ “Quan quan thư cưu” trong Kinh Thi.

Mở đầu Kinh Thi là bài Thi Cưu tả cảnh chim thư cưu như sau:

Quan quan thi cưu
Tại hà chi châu
Yểu điệu thục nữ
Quân tử hảo cầu.

quan-th-1_orig
Ảnh trên Internet về quan quan thư cưu. Chưa biết có phải ảnh của loài chim này hay không. Nếu ai tìm được ảnh của loài chim này, xin gửi đến: tonphi2021@gmail.com. Xin cám ơn và hậu tạ.

關雎

關 關 雎 鳩

在 河 之 洲

窈 窕  淑 女

君 子  好 逑

Dịch nghĩa:
Đôi chim thưu cưu hót họa nghe quan quan,
Ở trên cồn bên sông.
Người thục nữ u nhàn,
Phải là lứa tốt của bậc quân tử.

Dịch thơ:

Quan quan kìa tiếng thư  cưu

Bên cồn hót họa cùng nhau vang dầy.

U-nhàn thục-nữ thế này,

Xứng cùng quân tử sánh vầy lứa duyên.

Tản Đà -Nguyễn Khắc Hiếu chủ trương kiến  giải bài này là ca ngợi về Vũ Vương và bà vợ kế. Ông không biết rằng mình đang làm sai.

Tôi không nói Tản Đà là mật vụ hay gián điệp của Hoa tộc. Nhưng Tản Đà đã giải nghĩa sai, để lại những hậu quả vô cùng lớn cho các học giả Việt và cả văn hóa Việt sau này.
Phân tích bài thơ như sau: bối cảnh bài thơ nà nằm trong khoảng sông Trường Giang và sông Hoài. Đây là đất của dân Việt.

Người Việt thời đó còn đang hát trống quân (người Hoa không có văn hóa này). Hai bè nam nữ, được biểu tượng bằng chim thư cưu, hát đối đáp nhau. Cô gái ra đề, chàng trai phải hát được đối cô gái. Nếu hát được thì cô gái cho phép sang sông và hợp thân ngay trên bãi cỏ. Vì phải nghĩ ra câu văn thật hay và thật nhanh để đối lại cùng cô gái, cho nên đàn ông Việt rất giỏi văn chương, từ đó gọi là xứ “văn hiến chi bang”.

Chỉ bốn câu thơ trong bài Quan quan thư cưu, chúng tôi tái phục dựng cho bạn xem được cả một nền văn hóa. Có 300 bài như vậy trong Kinh Thi, là tài sản quốc gia vô giá, rất cần đưa vào chương trình môn văn học cổ điển và tạo ra nhân lực để làm một cuộc cách mạng về nguồn cho cả người dân trong nhà nước Viêm Việt.

Ở đây ta lưu ý đến hai điểm:
Thứ nhất, vì cô gái là người quyết định cuộc hôn nhân (người ra đề), nên vùng xảy ra bài thơ này trong văn minh mẫu hệ. Nói cách khác, bài thơ này, Kinh Thi, là của người Việt. Nếu nó xảy ra trên đất Hoa, thì chàng trai là người ra đề chứ không phải cô gái (du mục phụ hệ).

Nhiều người, chắc chắn là máu Việt, bảo rằng Nho giáo với Kinh Thi là của người Tàu. Thực không biết dùng từ gì để chỉ về họ nữa. Họ chắc chắn không phải là gián điệp, nhưng vì được giáo dục sai lạc, nên vô tình tiếp tay cho bọn xâm lăng. Bọn này quá đông, có bằng cấp, có kinh tế, kiểm soát ngành giáo dục, ngồi chễm chệ trên các nguồn doanh thu truyền thông, nên lừa dân qua hàng thế hệ.

Có bạn đọc, như AB Bùi, bảo rằng Kinh Thi chép bằng Hán tự, thì làm sao Kinh Thi là của người Việt như chúng tôi nói được. Trả lời: Câu hát (Quốc phong) đã có trước ở bờ nam sông Dương Tử và truyền miệng. Sau này Khổng Tử chép lại lời đó, ký âm bằng chữ Hán. Cho nên về bản chất, Kinh Thi vẫn là của người Việt, ít nhất cũng là quá bán.
Phân tích tiếp cho bác AB Bùi: Thời Khổng là Xuân Thu chiến quốc, nhà Hán mãi sau này mới có. Cho nên không thể gọi chữ mà Khổng dùng để chép là chữ Hán được. Phải gọi là chữ Nho. Danh hiệu “chữ Hán” là đặt ra từ thời nhà Tống. Chúng tôi đang làm việc với một số giáo sư ngành văn để đổi lại tên các bộ môn cho đúng: “Nho tự nhập môn” chứ không phải là “Hán tự nhập môn”, và xóa tên môn “Hán Nôm nâng cao” để thay bằng tên “chữ Nho nâng cao”. Của Xê-da thì trả lại cho Xê-da.

Hồi âm anh Phan Phúc Vũ: Lệnh Vua thua Cồng bà.

 
Hoàng Đế (Hiên Viên) kéo quân du mục sang sông đánh Xuy Vưu vua nông nghiệp. Quân đội của Xuy Vưu tổ chức kém, vì là xứ nông nghiệp nên có phát triển binh khí bao giờ? Khi đánh nhau như vậy,quân Xuy Vưu chia thành những tốp nhỏ. Ông dùng lệnh kéo thanh niên trong làng đi đánh, bà kéo gái làng lên núi quan sát tình hình. Nếu ông đánh có vẻ thua thì bà sẽ đánh cồng, và ông buộc phải kéo quân về, dù ông có lệnh.
 
Cuộc chiến đó còn chưa xong, cho đến bây giờ vẫn còn tiếp tục.  Trong địch có ta, trong ta có địch:
Trong đất Lỗ có Khổng Tử giúp người Việt giữ gìn Kinh Sách.
Trong nước Việt có những thạc sĩ, tiến sĩ bảo người Việt hãy vứt triết Việt Nho đi.
So với triết Khổng đề nghị tình huynh đệ phổ biến, triết học Aristote lại bảo trợ cho nạn nô lệ: cần phải có nô lệ để sản xuất. Làng xã Việt Nam, xưa theo triết Nho, thì mọi người đều can dự vào tài sản trong làng, 50 tuổi được vào hội đồng làng bất kể lý do, tuổi tác, giàu nghèo. Nay các “nhân sĩ trí thức”, các nhà “khai dân trí” rủ dân đi theo triết học Aristote và các con đẻ của nó, thì dân ta tất cả làm nô lệ dưới những hình thức mới.
 
Phượng hoàng vỗ cánh bay đi
Rước loài bìm bịp đem về chăn nuôi.
 
Nếu có hai lựa chọn: chọn sống trong làng xã Việt Nho quân phân ruộng đất, nghèo nhưng nghèo cả làng cả tổng, so với chọn thành bang Hy Lạp giàu có nhưng 1 người tự do 8-9 người nô lệ, bạn sẽ sống ở nơi nào?

Hồi âm anh Phan Văn Bách.

Anh Bách đặt vấn đề: hôn nhân một vợ một chồng bên Tây có trước hay bên Đông có trước?
Trả lời anh:Chim thư cưu là loài chim nước, có một tên nữa là vương thư, hình giạng giống như chim phú y, nay trong khoảng Trường Giang và sông Hoài vẫn còn có chim ấy. Chim này sống có đôi nhất định mà không hề lẫn lộn. Hai con thường lội chung mà không lả lơi, cho nên sách của Mao công nói rằng: Đôi chim thư cưu tình ý chí thiết khắn vó đậm đà, nhưng lúc nào cũng giữ gìn cách biệt. Sách Liệt nữ truyện cho là người ta chưa từng thấy chim thưu cưu sống dư cặp hay sống lẻ loi, là vì tính nó như thế.
Tính vào thời điểm Đức Giê-su làm phép tại đám cưới tại Ca-na-an thì đó mới là tiệc cưới chứ chưa phải là lễ cưới. Bên Viễn Đông, hồi đó đã có lễ cưới. Vì vậy, có thể nói rằng bên Viễn Đông có một nền nhân bản tâm linh rất vững chắc, độc lập với bên Tiểu Tây, nếu không muốn nói là đã có trước.

Rất khen tinh thần của anh Bách, khi anh nói câu gì là đưa ra sách đó để làm chứng. Nói có sách, mách có chứng. Nếu có điều kiện học hành đầy đủ như con nhà giàu, tôi tin rằng anh Bách giờ đây đã một người rất quan trọng cho xã hội.

Mình bị làm giả, chứng tỏ mình cao cấp.

Vừa rồi, có một số bạn viết báo chửi chúng tôi, đăng báo in hay báo mạng. Người viết dùng tên giả, và không để lại số phone, email, cho nên chúng tôi không thể truy ra để chất vấn.

Khi hỏi ông tổng biên tập của tòa soạn đó, rằng:
– Sao bác lại viết về em như vậy?
Bác tổng nói:
-Con phóng viên viết, không phải tôi viết.
Hỏi cô phỏng viên. Cô phóng viên nói:
-Dạ, ông tổng bắt em phải viết về anh như vậy, chứ em có biết gì đâu.
– Em may mắn. Gặp anh quá hiền.

Khi bạn chửi một người là “hủ nho” thì thật ra bạn đang chửi một “Pháp gia”. Pháp gia làm giả Nho gia. Trên đời, người ta chỉ đóng giả người cao cấp hơn. Nho gia chúng tôi bị làm giả, chứng tỏ chúng tôi cao cấp.

Vì sao chúng tôi bênh vực triết Việt Nho? Không phải chỉ vì triết ấy xuất phát tự liên bang Viêm Việt. Điều chính yếu ở đây, là triết ấy bênh vực những người yếu thế trong xã hội. Vì vậy ta phải bênh vực triết ấy.

Tôi tin rằng tiềm thức cộng thông của dân tộc đang hướng dẫn tôi làm những điều này.

Viết tặng chị Phạm Thị Lan Anh.
Ngày 13 tháng 03 năm 2020.
Liên lạc tác giả:
tonphi2021@gmail.com
Signal: +84344331741

Tác giả cho phép sao chép, phổ biến, chụp màn hình…dưới các hình thức mà không cần phải xin phép trước.

9 thoughts on “Phân tích bài thơ “Quan quan thư cưu” trong Kinh Thi.

  1. Anh Teo Tran nếu có thích thú thì kết nối với bạn này nhé. Để nói về Nho giáo và chữ nòng nọc. Đặng tui có cơ hội được mở mang về “mồ cha mả tổ” đặng khỏi phải khóc búi bòng bong! Ahihi

    Số lượt thích

  2. Bài Thơ: Quan quan Thư/ Cưu
    Góp vài ý về mấy câu: Quan quan Thư / Cưu ( hình thức Ca dao )
    Văn Hoá của chủng Việt là Văn hóa trử Tình,khác với Văn Hoa tộc lại nặng về Lý
    Quan quan Thư / Cưu diễn tả cặp Gái Trai tán tỉnh nhau một cách công khai, bài thơ mang hình thức Ca dao trử tình, do dân gian sáng tác , không giống như thơ niêm luật của Hoa tộc, ý chính là Dân gian viết sách ( Ca dao tục ngữ, truyện cổ tích )
    Bài thơ được trưng lên để nói lên sự khác nhau giữa hai nền Văn Hoá Hoa / Việt.
    Nền Văn Hóa Hoa tộc đặt tên Nguyên lý Cha trọng Lý hơn Tình ( Hiên Viên là lãnh tụ Du mục . . . ), còn Văn Hoá Việt lại đặt trên Nguyên Lý Mẹ ( Mẹ u Cơ.. . ) , năng Tình hơn Lý, do đó sự quan hệ giữa Nam và Nữ rất khác nhau.,Nữ nôi / Nam ngoại, Nữ là Nội tướng Nam là ngọại Vương.
    Bên Hoa tộc thi Nam /Nữ hữu biệt, Nam Nữ thụ thụ bất thân, vai trò đàn bà rất thấp với cảnh đa thê. chồng Chúa Vợ Tôi, về hôn thú thì môn đăng hộ đối với nhiều tục lệ rườm rà. Gái Tai tự ý ve nhau thì cho là bất chính lăng loàn . .
    Còn bên chung Việt thì ngược lại, thưòng thì rất phóng khoáng , Gái /Trai ve nhau một cách công khai, con Gái lớn lúc nào trong bọc cũng mang theo Trầu cau , khi gặp Trai ưng ý là đem trầu cau ra ve thẳng, chứ không bóng gió xa xôi : Anh ơi ! ăn một miếng trầu. . . Trầu này trầu Tính Tính trầu Tình, trầu Nhân trầu Nghĩa trầu Mình với Ta.
    Trong tục hát Trống Quân , có hai bè Nam Nữ: Bè Nữ bên Nữ thì trên Núi đi xuống, còn bên Nam thì dưói Sông đi lên ( Huyền thọai Tiên Rồng ) ,khi gặp nhau thì Ca hát đối đáp Tình Lý trực tiếp với nhau, cặp nào ưng nhau thì đem nhau hợp thân trên bãi cỏ hay trong lùm cây, sau đó nếu có mang thì cưới nhau, nếu chưa thì lần khác lại đi ve nhau như thế .
    Ngoài ra còn có tục hát Quan họ Bắc Ninh,hai bè Liền Anh, Liền Chị cũng hát đối đáp với nhau, trong mỗi phe đều có người giỏi Văn Thơ giúp sáng tác câu hát ứng đối ngay với nhau rất tài tình,
    Thời cụ Phan Bội Châu còn có tục hát hàng Vải ( con Gái dệt vải ), ở Nghệ Tĩnh có hát Ví, hát Dặm giữa hai bè Nam Nữ nơi công cọng, trong những đêm trăng sáng, có khi trong dịp ngập lụt, ban đêm Trai Gái chèo Nốc ( ghe nhỏ đan bằngTre ) trên nước lụt ca hát ve nhau.
    Cuộc ve nhau của Gái Trai một cách công khai, nhiều khi xóm làng còn tổ chúc hội hè đình dám cho Gái Trai ve nhau . Còn bên Hoa tộc thi mối manh phiền phức lắm, nào môn đăng hộ đối cùng với nhiều tục lễ rườm rà , nhiều cặp Nam Nữ yêu nhau mà không thể lấy nhau ,Cha Mẹ đặt đâu thì con ngồi đấy!
    Còn hai câu thơ trên ( của T.g. Kim Định ? ) xem ra hay hơn
    Phượng Hoàng cắt cánh bỏ đi (chứ không bay vút lên cao làm mất ý nghĩa )
    Rước loai Bìm bịp đem về chăm nuôi
    Ý chính là so so sánh giữa hai nền Văn Hóa, môt bên thì như chim Phượng Hoàng bay bổng trên trời cao, một bên thì như chim Bìm bịp cứ luẩn quân quanh lùm cây.

    Số lượt thích

  3. Cảm ơn anh Tôn Phi. Tôi rất hoan nghênh những phân tích của anh trong bài “Quan quan Thư cưu…”. Nói như Hà Hăn Thùy, phải viết lại nhiều thứ, không chỉ lịch sử mà văn hóa và nhiều lĩnh vực khác, kể cả nhân chủng học…. cũng vậy. Danh xưng chữ Hán, rồi Hán Việt rất là vớ vẩn, nhưng nói mãi, viết mãi thành quen, kể cả những bậc túc nho xưa soạn ra “từ điển” hay “tự điển” cũng nói thế, giải thích thế. Không chỉ 1 thế hệ mà rất nhiều thế hệ bị chìm đắm trong cái chum Hán học rồi thành Hán nô luôn. Thực tế thì bọn tàu đã tôn xưng dân tộc Hán như là một dân tộc thượng đẳng từ thời Tây Hán, nhưng có lẽ phải đến thời Tôn Trung Sơn, đặc biệt đến thời cộng sản thì bọn họ mới “Chính trị hóa” hay “cộng sản hóa” chuyện Hán hay không Hán ở nước tàu một cách triệt để. Không có một cơ sở dân tộc học, dân số học nào có thể khẳng định được từ thời Lưu Bang cho đến năm 2000, một dúm người tộc Hán ấy đã phát triển và chiếm 82% dân số TQ? Cả trên Tây Tạng, Tân Cương, Nội Mông…. “đều Hán là chính” thì chỉ là chuyện khôi hài. Mà người Hán lấy đâu ra truyền thống văn hóa được tích hợp từ nền văn minh lúa nước? Không chỉ có Kinh thi mà ngay Kinh kịch cũng đâu phải của dân du mục! Các nhà ngôn ngữ học không biết kết luận ra sao chứ theo tôi, không một người tàu nào, dù là thánh thi có thể làm được Truyện Kiều, chỉ vì ngôn ngữ ấy không thể có thơ Lục bát. Các nhà lãnh đạo, các nhà khoa học VN cứ tiêu hóa hết những thứ lý luận bậy bạ ấy của tàu để làm tê liệt và suy kiệt hệ thống tư duy văn hóa, đặc biệt là Triết gốc của dân tộc Việt. Buồn thay! Cần lắm những người như các anh để chí ít cũng gióng lên những hồi chuông cảnh tỉnh con cháu mình và tiếp lửa cho thế hệ mới để “đổi vận” theo đúng luật trời đất và vận nước. Vài lời nông cạn thế. Chúc anh khỏe.

    Số lượt thích

Trả lời

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất /  Thay đổi )

Google photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google Đăng xuất /  Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất /  Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất /  Thay đổi )

Connecting to %s