Nguyễn Việt Nho: Nói về “Tứ bất tử của Việt Nam.”

(Xin chào Bác Việt Nho, trước hết xin có lời hỏi thăm sức khỏe tới Bác, gia đình và cộng sự,  sau là lời cảm ơn về những bài viết mà Bác đã gửi tới điện thư. Nay tôi xin có câu hỏi về đề tài “Tứ Bất Tử Việt Nam” trong truyền thuyết, thư tịch cổ… ở Việt Nam và hải ngoại … Cảm ơn và chúc Bác vạn an!. Lê An Vi. Nghiên cứu độc lập Văn Hóa Việt Cổ. MA of Slavovic Philologies)

BÀI ĐĂNG KỲ I

          I. DẪN KHẬP

          _ Việc trước tiên tôi nghĩ cần thưa với độc gỉa rằng: Bài viết được nhìn của nhánh Đạo gia, hoàn toàn khác với quan điểm của hầu hết văn gia, triết gia hiểu về Tứ Bất Tử. Lối trình bày của Đạo gia giúp ta thấy Đạo. Chính cái thấy nầy mới là đúng hướng đi của Đạo Học,  bởi Đạo vốn là Con Đường. Con Đường thì cần phải thấy “Nó”, chứ không phải nghe nói về “Nó”. Đọc, nghe là chưa chu tri viên mãn Sự Vật. Thấy được Đạo mới là đích tối thượng để mà “theo Đạo” mà “hành Đạo”. Tôi nêu điều nầy là làm theo lời nói của Đấng Jésus Christ với lời Ngài dạy rằng: “Ta nói nước Thiên Đàng cho các tông đồ bằng mạc khải và người ngoại Đạo bằng dụ ngôn”.

          Mạc khải là trực nhận Sự Vật như chính Nó là Nó là. Nói “dụ ngôn” là mượn chyện để nói cái điều không thể nói được, như lời của Ông Lão nói: “Đạo khả Đạo phi Thường Đạo” (Đạo mà nói được là Đạo không phải Đạo Thường Hằng), nên nói dụ ngôn là “nói vậy chứ không phải là vậy” (sẽ trở lại vấn đề trong bài viết về CHỮ ĐỒNG TỬ kỳ tới)

          _ Thật ra, ngôn từ qui ước “thế gian pháp” của văn gia thì “cạn ý, rậm lời”, chỉ có thể diễn đạt những vấn đề thế sự thường tình “dưới đất” chứ không thế chưng trình ra những chuyện cao xa “trên trời” (Thiên Đàng).

“Ngôn từ cạn ý, rậm lời

Chỉ vô ngôn mới rộng khơi nhiệm màu”!

(TĐ Nguyễn Việt Nho)

Để giúp cho ta thấy Con Đường Đạo Lý của Đạo Càn Khôn/Trời Đất của Sự Vật, ta cần có “Đạo Tự” là hình tượng của nét vẽ nòng (0), nọc (1) (Dịch nòng nọc) hay nét Dịch Càn (__), Khôn (_ _).  Kinh Hùng gọi lọại chữ tượng hình nầy là “triết tự văn hóa”:

“Kinh Châu Dương Việt hai miền

Triết tự văn hóa lưu truyền sử xanh”

“Triết tự văn hóa” giúp cho Sự Vật chưng trình ra cái “nó như là chính nó là” (it is as it is), cái điều nầy văn chương, triết lý của nhóm văn dia không làm được.

          Nói điều nầy là để cần độc gỉa lưu ý: Bài viết dùng thề văn “tạm dụng, cưỡng dụng” chẳng đặng đừng để qua đó chưng trình điều không thể nói được tức là điều mà ta cần phải thấy chứ không là nghe và cũng có nghĩa là, đọc bài với lời tạm dụng, ta cần “bỏ lời lấy tượng, bỏ tượng lấy ý, bỏ ý đi vào Đạo để thấy Đạo”!

          _ Đây là đề tài lớn và quan trọng mà tôi chỉ làm việc mình ênh, chẳng có người cộng sự nào, thành cần thời gian “quan chiêm” kỹ. Cầu mong Ông Bà Tiên Tổ cùng hồn thiên đất nước gia trì phù hộ để có được sáng suốt mà thấy, mà viết. Xin bác Lê An Vi cùng qúi độc gỉa cảm phiền chờ đợi đến lượt mình được trả lời. Và, nhân đây, xin thưa rằng: Thư Bạn Đọc sẽ ưu tiên trả lời theo thứ tự thời gian nhận thư.        

          _ Thật tình mà nói, khi lên mạng tham khảo đề tài hòng giảm thiểu tư kiến mang tính chủ quan. Nhưng tiếc thay, hầu hết các bài viết đều hiểu huyền thoại  theo lời bạch văn, không nêu lên được điều quan trọng là cái Đạo Lý chứa trong các huyền thoại, để qua đó thấy được tính “bất tử” của các Vị nầy.

          Tại sao bốn vị Thần nầy thành “bất tử” mà những vị khác như vua Lê Lợi, vua Trần Nhân Tôn, Đức Trần Hưng Đạo, Vua Quang Trung và nhiều vị có công lớn với đất nước, với dân tộc, lại không được cho là “bất tử”? Ngay cả như Thánh Trần Hưng Đạo cũng không cho là bất tử, tại sao? Đây là điều quan trọng, tôi nghĩ cần phải được làm sáng tỏ.

          _  Đề tài khá rắc rối (?) và mới mẻ đối với phần đông độc gỉa, để rõ ý, chắc là phải viết dài, thành ra tôi xin được chía bài viết làm 5 lần đăng, bốn phần viết về bốn vị “Bất Tử”, lần lượt theo thứ tự thời gian và theo công đức của các Ngài để lại cho đời. Phần thứ 5 là những bài đọc thêm để bổ sung cho bài viết. Tài liệu tham khảo cũng sẽ được đăng cùng với phần  nầy.

          II. BỐN VỊ TỨ TỨ BẤT TỬ

            Tứ bất tử (四不死) là tên gọi chung của bốn vị Thần Thánh không bao giờ chết trong tín ngưỡng dân gian thuần Việt và bốn vị “bất tử” đó là  đó là:

          _ Tản Viên Sơn Thánh

          _ Phù Đổng Thiên vương

          _ Chử Đồng Tử

          _ Công chúa Liễu Hạnh.          II.1 Thần Tản Viên Và Những Gì Liên Quan Với Ngài: 


          Trong phần nầy ta sẽ đề cập đến huyền thoại, huền tích cùng những gì liân quan đến Ngài, sau đó tìm hiểu xem tại sao bốn (4) vị (1) chứ không là 1,  2, 3 hay 5, 6, 7 … vị? Và, tại sao 4 vị nầy chứ là bất tử? Và, 4 vị có thật là bất tử không? _       Việc khá rắc rối, xin được làn lượt trình bày theo cách đọc thể loại huyền văn qua lối dẫn của huyền tư, huyền đồ, huyền số … chứa trong huyền tích và huyền thoại … Ta sẽ lần lượt đi vào đề tài và trước tiên là Thần Tản Viên.

  H.1: Núi Ba Vì nơi Thần Tản Viên ngự _ H.2: Đốt Trúc tạo Lạc Thư, Hà Đồ (Hình của tác gỉa)

Về Núi Tản Viên và những thánh tích: Núi Tản Viên còn  cọi núi Ba Vì (2), rộng chừng 5000 ha, cách nội thành Hà Nội chừng 60km. Theo sách “Bắc Thành Địa dư chí” của Lê Đại Cương chép: “ Núi này ở huyện Bất Bạt (3), phủ Quảng Oai (4), tỉnh Sơn Tây (nay là huyện Ba VìHà Nội). Núi  cao 1281m . có ba vì với ba đền thờ ở ba nơi đó: Đền Hạ dưới chân núi, Trung ở lưng chừng núi và đền Thượng (5) nơi đỉnh núi cao nhất. Tất cả đều để thờ  một Đức Sơn Tinh Tản Viên (6).

          _ Về Thần Tản Viên được xếp ở vị thế số 1 (7) vì, thứ nhất là: Ngài xuất hiện trước tiên trong 4 Vị, từ thời Cha Rồng, Mẹ Tiên chia con sinh 100 trứng (8)được xem như làhuyền thoại Khởi Nguyên. Thứ hai là vì công đức to lớn của Ngài trong nhánh Văn Hóa Đạo Học (9) của dân tộc ta.

          _ Về Huyền Thoại Tản Viên: Truyện kể rằng, Thần tên là Nguyễn Tuấn, là một người trong nhóm “50 con (10) theo Cha (LLQ) ra biển”. Ở Long cung một thời gian, ông lại nhớ Mẹ (ÂC) nên xin Cha trở về với Mẹ cùng 50 người anh em cùng bọc theo Mẹ (11). Khi chia tay Cha để về với Mẹ, Ông Nguyễn Tuấn được Long Vương (tức Cha Lạc Long Quân) tặng cho cây gậy thần 9 đốt (12) và một quyển sách Ước có 3 trang mà 2 trang đọc được (13) và 1 trang trống không (14) vì chẳng có gì trên đó!

          Trong truyện kể vể Thần, dân gian còn lưu truyền chuyện tranh tài giữa Ngài Tản Viên Sơn Tinh và Thần Thủy Tinh tranh cưới cô công chúa Mỵ Nương con Vua Hùng và cuối cùng, Sơn Tinh Tản Viên đã thắng Thần Thủy Tinh (15).

          Chuyện liên quan đến Thần còn được lưu truyền thêm là: Đến khoảng 250 năm trước Công Nguyên, An Dương Vương cho lập đền thờ Thần Tản trên núi Ba Vì và cứ 3 năm một lần, vào 15 tháng giêng (16) Âm lịch, tại đây diễn ra lễ hội lớn. Lễ hội có rước bài vị ThầnTản, bắt 99 (17) con cá làm gỏi dâng tế Ngài.

          Ngoài đền thờ chính ở núi Ba Vì, Tản Viên Sơn Thánh được thờ cúng ở nhiều nơi nhất là ở các tỉnh Vĩnh Phúc, Phú Thọ, Hòa Bình …  

          * Giả Mã Huyền Tích Và Huyền Thoại:

          _ Mẫu huyền thoại trên đây thuộc thể huyền văn chưng ra huyền tích (chứng tích còn tồn đọng mà người xưa cố tình lưu lại cho hậu thế. hoặc kể lại bằng huyền thoại (chuyện kể bằng miệng trong đó đòi hỏi phái có chứa các chữ gọi là huyền tự, các đồ hình gọi là huyền đồ, các con số gọi là huyền số …). Mà khi đã là huyền tích, huyền thoại, thì cần phải có cách hiểu khác với thể bạch thoại,  của nhánh văn gia. Nghĩa của thể văn huyền không nằm nơi chữ qui ước mà Nghĩa Lý của nó nằm ở nơi các huyền tự, huyền tựợng, huyền đồ, huyền số … Nhờ đó và thông qua đó mà ta có thể giải mã để đạt huyền Ý của nó …

          Để hiểu mẫu huyền văn trên, xin độc gỉa lưu ý các chữ có gạch dưới và được in đậm có kèm với các số được đánh dấu (1), (2), (3) … cần giải thích nó theo cách: “bỏ lời lấy tượng, bỏ tượng lấy ý, bỏ ý lấy Đạo” như người xưa để lại lời dạy khi đọc huyền thoại hay là khi học Dịch …

          Ngạn ngữ ta có câu: “Nói có sách, mách có chứng”: Huyền tích là chứng tích. Huyền thoại là Sách Vô Ngôn. Việc giải mã sẽ theo thứ tự xuất hiện của chúng được đánh dấu từ số (1) đên số (17):

          Cước chú số (1): Bốn 4 Vị Tứ Bất Tử: Con 4 vừa là số thứ tự vừa là con huyèn số với huyền ý là con 100 hay ( ) tức Chấn/Lôi/Rồng/Con Rồng/con của giống Rống (LLQ). Nghĩa ở đây là 4 Vị “bất tử” đều là con của giòng Tiên Rỗng Việt tộc.

          (2): Ba Vì, con số 3 là con huyền số, tùy vào thời vị mà có rất nhiều nghĩa khác nhau, riêng nghĩa ở đây chỉ ra Đạo Lý Tam Tài Thiên Địa Nhân gôm làm Một; Con 3 còn được gọi với nhiều tên khác như Tam Hoàng (Thiên Hoàng, Địa Hoàng và Nhân Hoàng), Đạo Ba, Ba Ngôi (TCG). Tam Tính (PG) …

          Ba Vì (núi Ba Vì) được Thần Tản Viên chọn ở là vì núi có ba ngọn làm một núi, là tượng hình chưng ra Đạo Ba (trong Một có 3 hay 3 gôm vảo Một).           Việc Thánh Tản chọn núi Ba Vì như ông Thánh Saint Patrick chọn cỏ ba lá để chưng ra tượng Chúa Ba Ngôi (Ba Ngôi là: Ngôi Cha <Lý trí>, Ngôi Con <Tình Thương> và Ngôi Thánh Thần <Lực Dũng Tự Nội, tự thấng>.

          Trong Nghĩa Lý nầy’ về sau TCG La Mã lấy tượng nầy cho nhiều nghi thức tôn giáo như: Chọn cỏ ba lá để tượng trưng 3 ngôi mà Một, chọn cỏ ba lá vẽ nơi bục giảng của các linh mục (Nhánh cỏ 3 lá có tượng chim bồ câu vẽ trên đó nhằm ý để truyền tin, truyền đạt. Còn nữa, gia đình Thánh gia thì gồm có hai dương (2 Ông: Ông Thánh Giu-Se, Đức Chúa Giê-Su) và một âm (Đức Mẹ Maria), linh Mục rửa tội cho tân tòng thì đổ ba lần nước và đọc Danh Chúa Ba Ngôi …  

          Phật giáo thì cũng chẳng khác: Phật là Phật Tự Tánh/Phật Tại Tâm cũng có 3 là BI, TRÍ, DŨNG, vua Tịnh Phạn không thiếu gì cung phi mỹ nữ và con cái nhưng sách sử cũng chỉ nhắc đến cái dạng thức Ba trong Một là: Ông Vua Tịnh Phạn, Ông Phật Thích Ca và Bà hoàng hậu Maya …

          Cụ đồ Chiểu xứ Nam bộ gọi dạng thức “Ba Trong Một” là Đạo Ba.

          Đạo Ba nầy phổ cập ở khắp mọi nơi và trên mọi Sự Vật: Một cây có ba phần (Bộ rễ, thân cây và cành lá). Thân thể người ta chia ra làm ba phần: Đầu, mình và chân tay. Trên cánh tay cũng có ba đoạn: Cánh tay trong, cánh tay ngoài và bàn tay. Trên cẳnng chân có: Bắp vế, ố quyển và bàn chân. Một ngón tay cũng có ba lóng … Trong mỗi một bộ phận 3 nầy có 3 huyệt (nhờ vào đây để xác ggịnh huyệt theo phương pháp “Đồng Ứng Trị Liệu Pháp mà không cần thuộc huyệt _ Thầy Lý Phước Lộc) … Một quái của BQ có ba hào. Trong chính thể chính trị tôn trọng dân chủ, dân quyền thì tổ chức chính phủ có Tam Quyền Phân Lập … Ông Thần Tản Viên chọn núi Ba Vì nằm trong ý nghĩa của Đạo Ba nầy.

          (3), (4): “Bất Bạt”, “Quảng Oai”: Bất Bạt, Bất là không, bạt là phai (chữ bạt có trong từ: bạt màu); Bất Bạt là không phai mờ. Quảng Oai: Quảng là quảng bá, loan truyền; Oai là oai phong, oai nghiêm, oai hùng … Quảng oai là quảng bá, loan truyền những cái oai vừa trên. Hai địa danh vùng Núi Tản Viên nầy được sử dụng như là hai huyền tự nói về tính “bất bạt”, “bất tử” cần phải lưu truyền và quảng bá sâu rộng muôn đời, chúng là những huyền danh.

          (5), (6): Đền Hạ, đền Trung, đền Thượng: Ba đền cũng chưng ra tượng Ba tính  trong Một (Ba đền cũng thờ Một Vị (Thần Tản Viên), đã giảng vừa  rồi ở chú giải (2)

          (7): Thần Tản Viên được xếp số 1: Số một vừa là số thứ tự, con 1 còn là con huyền số. Con Huyền số 1 viết ra Lý số là:100 (Dịch nòng nọc). Dịch Càn Khôn là con Cấn/Sơn/Núi ( ), mang ý chỉ Thần Tản Viên cũng là Thần Núi (Sơn Tinh)

          (8): 100 “trứng”: 100 là con Lôi hay Thuần Lôi 100 ( ) hay Thuần Lôi 100/100 ( / )chỉ Rồng hay giòng giống nhà Rồng.

          _ Còn con số 100 trong nghĩa của số đếm, chỉ tổng cố chấm tròn đen trắng trên hai hình Lạc Thư (45 chấm) và Hà Đồ 55 chấm gộp lại thành số 100 “trứng”.

          – “Trứng” là huyền tự chỉ số con của Lôi Rồng cũng vừa là chỉ số chấm tròn đen trắng/âm dương trên hai hình Hà Lạc gôm lại.

          Số 100 âm dương nầy viết với hệ nhị phân (binary) với hay hạn số 0,1 hay Càn (__) Khôn (_ _) với “tam cương” (ba hào) sẽ cho ra tám con số, gọi là Bát Quái, viết với “lục cương” (6 hào Dịch sẽ) hình thành 64 quái Dịch, là toàn bộ quyển “sách Ước trinh nguyên không một chữ”, tức quyển Kinh Dịch chưa có phần Thoán Từ và hào từ chua vào!

          (9): Nhánh Văn Hóa Đạo Học: Văn học Việt có hai nhánh, nhánh văn chương của văn gia và nhánh Đạo học của Đạo gia. Nhánh Đạo học không sử dụng ngôn từ mà dùng Đạo tự âm dương để viết ra các con Lý Số dẫn vào Đạo Lý.

          (10), (11):   50 con theo Cha ra biển, 50 con theo Mẹ lên núi.

          Trước hết xin trình bày hiện tượng giàn băng và tan băng trên địa cấu liên hệ với việc mà huyền thọai bảo “theo Cha ra biển và theo mẹ lên núi”:

          Qủa đất chúng ta không đứng yên mà di chuyển cùng hệ Mặt Trời khi Mặt Trời đi sang phía Bắc, khi thì chuyển về phương Nam. Về phương Bắc, qủa đất gần với sao Bắc Đẩu (các khoa học gia gọi là “qủa cầu tuyết” <Snow Ball>), Địa Cầu bị ảnh hưởng cái khí lạnh của sao nầy làm nước biển đóng băng gôm về hai cực, khoa học gia gọi thời kỳ nầy là thời kỳ gián băng, huyền thoại ta gọi thời nầy là thời “theo Cha ra biển”. Ở thời nầy nhiều nơi trên qủa đất, do nước biển rút xuống, lộ ra nhiều vùng đất mới màu mỡ, dân cư Địa Cầu thiên di đến các vùng thấp nầy ở, huyền sử của ta gọi thời nầy là thời “theo Cha ra biển”. Ngược lại khi qủa đất ở vào chu kỳ trở nóng (khi qủa đất chuyển dịch về phương Nam, phía sao Nam Tào), lớp băng ở hai cực trái đất tan ra làm nước biển dâng cao tràn ngập nhiều vùng đất thấp, khiến con người phải lên vùng cao ở. Huyền sử gọi thời nầy là thời “theo Mẹ lên núi”.

          Theo các nhà băng gía học, hiện tượng nước trong các thời tan và gián băng làm cho mực nước biển lên xuống có độ cách biệt là khỏan 160 m, khiến, khi xưa, đã có thời ta và Philipines, có thể đi bộ qua lại được! Nay, ngược lại Địa Cầu chúng ta đang đi vào thời kỳ tan băng, nước biển đang dân lên sẽ làm nhiều vủng thấp sẽ bị ngập nước, nhiễm mặn, rồi người dân chắc là phải “theo mẹ lên núi”lần nữa mà ở!

          Sử nói về việc “theo Cha ra biển và theo Mẹ lên núi”, một số triết gia, như nhóm LM Lương Kim Định, gọi là “sử chiều dọc” và nhánh Đạo Học mượn hiện tượng nầy để lồng vào đó mà chưng trình ra Đạo của Càn Khôn/Trời Đất, gọi nó là “Huyền Sử” và gọi việc kể lại bằng miệng nầy là “Huyền Thoại” …

          _ “50 Con Theo Mẹ Lên Núi” trước cho dễ thấy, sau đó sẽ trình bày phần “50 con theo Cha ra biển”:

          Huyền số 50 chuyển sang Lý Số là con Thủy Trạch Tiết. Thủy Trạch Tiết  010/110: (Dịch nòng nọc) hay ( / : (Dịch Càn Khôn), có tượng Thủy/ nước (biển), Trạch/là ao, hồ, tượng chưng ra là nước biển ở thời tan băng, hai cực do nhiệt độ qủa đất tăng lên làm nước dâng tràn ngập khắp nơi, thành cư dân phải gôm về chỗ cao mà sống thành gọi là “tiết” huyền thoại gọi là “theo Mẹ lên núi”.

          _ “50 Con Theo Cha Ra Biển”: Theo Cha ra biển là hướng đi xuống chỗ thấp trũng, thành là hướng nghịch lại với hướng theo Mẹ lên núi. Vì là hướng đi xuống thấp, là hướng âm, nên nếu ta đặt dấu trừ (__) trước con Thủy Trạch Tiết / thì các dấu dương âm/ Càn Khôn trong Thủy Trạch Tiết sẽ chuyển dấu: dấu âm thành dương và ngược lại:_ ( / ) = / (Hỏa Trạch Tiết thành Hỏa Sơn Lữ).

Lữ là lữ thứ, lữ khách.Tượng của Lữ là: LI/Hỏa/lửa (hay chiến tranh) xảy ra trên đất mẹ (Cấn/Sơn), thành người dân ở đó phải bỏ xứ ra đi thành người lữ thứ, lữ khách. Qua tượng nầy nó chưng ra cách sống cho chúng ta khi ở thời Lữ nầy: Người mới đến xứ lạ phải cần khiêm nhường học hỏi kiểu “xuất xứ tùy thân, nhập gia tùy tục” và còn khi mình thuộc hạng có quyền chức “quan trên trông xuống, người ta trông vào”, thì phải sống sao cho xứng hợp kẻo bị chúng chửi …

          (12), (13), (14): Gậy Thần 9 đốt và Sách Ước 3 trang (2 trang đọc được, 1 trng không): Chiếc gậy nầy rất là quan trọng, nó vừa nói lên công đức to lớn để đời của Thần. Chỉ cần một chiếc gậy thần nầy cũng đủ đánh bạt những điều ngụy tạo, phịa đặt bằng huyễn thoại (huyễn dấu ngã, là chuyện phịa đặt vu vơ) nhằm cướp đoạt tác quyền Kinh Dịch của Việt tộc, xóa sổ văn hóa của tộc dân nầy trong sách lược thực dân của nó:

“… Đã bao lần đốt sách, giết học trò

Đã bao lần sửa sử viết quanh co

Kẻ thù vẫn không bao giờ xóa được” …

          Nhưng nền Văn Hóa Cổ Việt sẽ không bao giờ xóa được. nó sẽ mãi bất từ. Chúng không thể dùng biện pháp “đốt sách, diết học trò” bởi tính vô ngôn, vô tự của nền văn hóa nầy và lại được lưu truyền trong dân gian trong khắp miền đất nước thì làm sao mà xóa nó!. Ta có thể nói: Dân ta còn tính ngưỡng về bốn vị thần nầy là nền văn hóa này còn. Nền văn hóa nầy còn thì Việt Đạo còn. Đạo Việt còn thì nước Việt còn! Điều nầy giải thích được rằng tại sao ta bị Tàu đô hộ ngót ngàn năm mà Tàu không đồng hóa được ta như chúng đã đồng hóa nhiều tộc dân khác và cũng hiểu được rằng tại sao dân các xứ Nam Mỹ và Trung Mỹ lại bị Tây Ban Nha đồng hóa …

          Ta chỉ cần giải mã đúng Gậy Thần, Sách Ước của LLQ trao cho Thần Tản Viên thì sẽ minh xác điều vừa nói ở trên:

          a. _ Gậy Thần tạo Hà Đồ, Lạc Thư (là căn bản của nền Dịch Lý Vô Ngôn dẫn vào Việt Dịch, Việt Đạo)

          _ Gậy trúc tạo Lạc Thư:

          Gậy Thần phải là gậy trúc và gậy chỉ sử dụng 9 đốt (mắt):

Hãy đánh dấu các đốt gậy từ số 1 cho đến số 9 (số 5 sẽ nằm giữa gậy (xem hình số 2, nơi phần1 vẽ chiếc gậy). Xong sắp gắp gậy nằm ở 4 vị thế: Dọc, ngang, 2 chéo (xem hình 2/2). Đoạn đưa các con số trên gậy ra hai đầu gậy (xem hình 2/2). 9 con số nầy sẽ tạo ra hình Lạc Thư (xem hình  2/3) có số trên nó là 45 (là số của LT), do các số trên gậy mà có ( 1+2+3+4+5+6+7+8+9 = 45 (xem hình 2/3 và 2/4). Số 45 trong đó có 25 số lẻ (dương) và 20 số chẵn âm). 45 (âm dương), là số của Lạc Thư.

          Như vậy, Lạc Thư là do gậy Thần hình thành chứ không như là chuyện phịa đặt của Tàu Chệch, rằng ông nầy ông kia nhìn trên sông Lạc thấy con Rùa Thần nổi lên trên lưng có nhiều chấm tròn trên đó và mô phỏng vào đây để vẽ ra hình Lạc Thư (qủa là sai chệch! láo khoét!)

          _ Gậy trúc tạo Hà Đồ:

          Cũng chiếc gậy nầy, thay ví đánh dấu gậy và sắp gậy như trên, lần nầy gậy được đánh dấu số chẵn (âm) một bên, số lẻ (dương) một bên và vẫn ghi số 5 vào đốt giữa gậy (xem hình 5). Xong, không sắp gậy trên mặt phẳng nữa mà hai tay cầm gậy (mỗi tay đặt mỗi bên con số 5 trên gậy) và bắt đầu lan (múa gậy) và ghi nhận số trên gậy, ghi từ trong ra ngoài, mỗi lần ở các vị thế:

          1) Số 5 nằm giữa gậy

          2) Số 10 là dấu 10 ngón tay của hai bàn tay

          3) Số ghi 1 dưới, 2 trên (khi dậy ở vị thế thẳng đứng

          4) Số 3 (bên tay trái của người múa gậy) số 4 ở phía tay phải (khi gậy ở vị thế nằm ngang)

          5) Số 6 dưới số 7 trên (khi gậy trở về vị thế thẳng đứng lần 2)

          6) Số 8 trái, số 9 phải (khi gậy ở vị thế nằm ngang lần 2)

          Thế ta hình thành đồ hình Hà Đồ bằng chiếc gậy trúc 9 đốt, có 55 chấm đen trắng/âm dương (gồm số 45 của gậy +  10 <số 10 đầu ngón tay>), hình thành số của Hà Đồ là 55 (gồm 25 T dương + 30 Đ. âm =55 trứng đen trắng/gái trai)

          Như vậy tổng số 2 hình Hà Lạc là 100 (45 LT + 55 HĐ). Số 100 là con huyền số chỉ ra số con Tiên Rồng/Âu Lạc (Âu Cơ và LLQ), còn gọi là chiếc bọc 100 trăm trứng 100 con của Mẹ Âu Cơ).

          Số 100 (50 âm + 50 dương) nầy nếu viết ra số nhị phân (binary), dưới hệ tam cương (ba hào Dịch) bằng hai hạn từ (digit) 0,1 thì sẽ cho ra tám con Lý Số, gọi là Bát Quái của Dịch nòng (0) nọc (1). và viết với hai hạn từ Càn (__), Khôn  (_ _) sẽ cho tám con quái số gọi là BQ của hệ Dịch Càn Khôn.

          Còn số 100 nầy viết với 6 hào Dịch thì sẽ hình thành 64 Dịch quái, là trọn bộ kinh Dịch không có phần thoán từ về sau thêm vào. Đây là trọn bộ Sách Ước của ta do gậy thần hình thành. Ngày nay vẫn còn lưu truyền câu ca dao cổ minh xác rằng sách và gậy là của, là của Long Vương (LLQ) trao lại cho Thần Tản Viên:

“Sách Ước trinh nguyên không một chữ

Gậy Thần đốt trúc có hai đầu”

          _ Chứng tích còn lưu truyền về đốt trúc gầy Thần, Hà Đồ, Lạc Thư:

          * Tre, trúc được Việt Nho và cả Hán Nho chọn làm biểu tượng của Nho Học và của người nho sĩ (quân tử)

          * Tre, trúc được Thánh Gióng dùng để đánh giặc Ân sau khi đánh chúng bằng roi sắt. Chuyện kể rằng Ngài đã “nhổ tre” để đánh tiếp. Điều nầy mang ý là: Sau khi dùng biện pháp cương để đánh, xong, dùng văn hóa “gậy thần đốt trúc” mà đánh để thay đổi cái đầu của chúng (change their minds). Việc làm nầy về sau được chữ nghĩa hóa là: “Cương nhu dĩ giáo, bất báo vô Đạo” (Dùng cứng mềm mà giáo hóa, không báo thù kẻ vô đạo). Thánh Tản Viên qủa thật vô cùng nhân bản! Ông, mà không phải là ông Khổng, qủa thật là ông “Thánh chi thời”!

          * Cây nêu ngày Tết là cây tre, trúc chứ không là loại cây gì khác. Chữ “nêu” có nghĩa là đưa lên, trình ra còn việc dùng tre trúc là muốn qua đáo nói về nền văn hóa được hình thành từ “gậy thần đốt trúc” như đả nói ở chú giải (12), (13), (14).

          * Hoàng tử Tiết Liệu (cũng có sách viết là Tiết Liêu) dưới thời Hùng Vương 6 được chọn để nối ngôi vua trị nước vì ông dùng 4 dây lạc trúc (tre) để làm lạt buộc bánh chưng, chia bánh hình vuôn nầy ra làm 9 ô như hình Cửu Cung (Lạc Thư) với dâng kèm bánh dầy hình tròn tượng trưng cho Hà Đồ. Vua cha hiểu Đạo truyền qua hai hình bánh, nên Ngài đã chọn hoàng tử nầy trúng tuyển trong cuộc ‘thi chọn vua’ để nối ngôi cửu ngũ (9×5=45, số 45 cũng là số của Lạc Thư!).

          * Bánh tét: Gói bánh tét đúng kiểu của người xưa, là bánh được cột với 7 nuộc lạt tre, trúc (7 nuột lạt nầy cộng với 2 đầu bánh sẽ hình thành hình tượng của đốt trúc 9 đốt).

          * Trong ngày giỗ người qúa cố, dân gian Việt nhiều nơi dùng cây mía thay cho giống tre, trúc (mía cũng có đốt giống loài tre trúc), gợi ý để nhắc về nền văn hóa hình thành từ chiếc “gậy thần đốt trúc”.

          * Ngày mở cửa mả (ngày thứ 3 sau khi chôn người chết), trong phong tục ở vài nơi ở xứ ta, cũng dùng cây mía cột cùng với con gà trống và cho gà đi quanh mả ba vòng mả mới chôn, cũng nhằm nhắc về gậy Thần huyền thoại.

          b. Giải mã Sách Ước Trinh Nguyên

          Sách Ước trinh nguyên là Sách “không dùng chữ”. Chữ ở đây là chữ viết qui ước, thông thường. Theo huyền thoại nói về sách nầy ta có những điều cần để tâm giải mã: Thứ nhất là sách không chữ. Thứ hai là: sách chỉ có 3 trang mà 2 trang đọc được1 trang không

          _ Sách không chữ: Viết sách mà không sử dụng chữ thì dùng cái gì để diễn ý? _ Thưa dùng tượng chưng ra tính âm dương của sự vật như tượng nòng (0) hay nọc (1) hoặc là tượng Càn (__), Khôn (_ _). Kinh Hùng gọi các tượng nầy là “triết tự văn hóa”, nên sách khai sơ (trinh nguyên) được gọi sách “không một chữ”

          _ Ý nghĩa sách 3 trang Sách Ước: Con 3 là con Phong Địa Quán 110/000 hay  ( / ). Quán là quan sát cái chính sự vật thể hiện ra. Quan sát cái gì ở đây? _ Quan sát Đạo Ba do ba con huyền số1,2,3 hình thành Đạo Ba như đã giải ở chú giải (2). Ngoài ra, con 3 đi kèm vời con 2 sẽ tạo ra gon huyền số “vài ba” hay huyền tỉ số 2/3. Con 2/3 viết ra Lý Số là con Thủy Phong Tỉnh (010/110) hay ( / ). Tỉnh là cái giếng. Giếng đây là giếng Việt nên còn được gọi là Việt Tỉnh và Việt Tỉnh có hai nghĩa: Thứ nhất là nguồn nước cam lồ (nước miếng của ta: Thủy là nước, phong là bọt nước <bong bóng nước> có chứa không khí bên trong) để trị bệnh: Giúp tiêu hóa thức ăn, tiêu đàm hạ rấm (địt), chữa lành vết thương trong dạ dày, sát trùng đường ruột …). Nghĩa thứ hai là nguồn sống tâm linh hay tâm thức Việt cũng là Đạo Việt.

          _ Trang không đọc được có hai ý: Hai trang đọc được là hai trang gồm: 1 trang có đồ hình và một trang nữa là các con Lý Số, xem đây như là 2 trang dương có  tượng (11) sương/đực, còn trang không đọc được gợi ra ý trang trống mang tượng nòng (0) âm/cái. Đây là tượng hình của Đạo Ba gồm hai Ông một Bà, huyền tự gọi là chiếc kiền Ba Chân Táo Quân của gia đình Táo nhà Trời:

Thế gian một vợ, một chồng

Đâu như vua Táo hai Ông một Bà

          Táo nhà Trời (Táo Quân) là một mẫu tượng Đạo Lý đáng tin cậy:

“Dù ai nói ngã, nói nghiêng

Lòng ta vẫn vững như kiền ba chân”

          (15): Tranh tài giữa Sơn và Thủy Tinh, Sơn Tinh Thắng: Điều nầy nằm trong Qui Luật Thường Hằng, Thường còn của Ngũ Thường là Thổ khắc Thủy: (Sơn Tinh) khắc Thủy (Thủy Tinh).

          (16): Lễ rước bài vị Thần Tạn Viên chính thức là ngày 15 tháng Giêng: 15 là Thiên (111) hay ( ); tháng Giêng là tháng 1. Con 1 là Cấn/Sơn. Thiên trên Sơn là / (Thiên Sơn Độn). Độn là trốn lánh, nghĩa ở đây là chôn dấu, cất dấu những điều  hiếm qúi, những chuyện trên trời (của Đạo Lý Đất Trời).

          (17): 99 con cá làm gỏi dâng tế Ngài. 99 là con Phong Lôi Ích: Ích là  ích lợi, bổ ích, làm ích cho nhau, dụng vào việc lớn thì khó khăn gì rồi cũng vượt qua. Đây là qủe 42 trang 352 trong tác phẩm ‘Kinh Dịch Đạo của Người Quân Tử’ của Nguyễn Hiến Lê. Thoán từ viết rằng: Ích: Lợi hữu du vãng, lơi thiệp đại xuyên. Dịch ra là: Tăng lên: Tiến lên thì lợi, qua sông lớn (làm việc lớn) thì lợi, có nguy hiểm gì rồi cũng vượt qua.

(Còn tiếp)

Cảm ơn qúi vị đã bỏ thời gian đọc.

San Jose, 28/6/20.

Nguyễn Việt Nho

nguyenvietnho1943@yahoo.com

Trả lời

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất /  Thay đổi )

Google photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google Đăng xuất /  Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất /  Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất /  Thay đổi )

Connecting to %s