Chữ Việt qua các thời kỳ-Nguyễn Việt Nho

Nguyễn Việt Nho.

(Trả lời theo yêu cầu của anh Nguyễn Văn Đức, Palo Alto, CA)

A. PHẦN DẪN NHẬP

            Một cách ngắn gọn, chữ Việt trải qua nhiều thời kỳ: Từ khởi thủy là chữ viết ra các con Dịch Lý/ Dỉch Số dưới dạng chữ nòng Nọc 0,1 hoặc dạng Càn Khôn (__), (_ _), gọi là Đạo tự (chữ viết chưng ra Đạo Lý của nhánh văn hóa Đạo học, có từ thời Nhà Hạ, khoảng 7.000 năm trước). Tiếp sau là chữ mang tương lăng quăng, đến chữ tượng hình mang bộ tượng kết lại như chữ viết được như là của Hàn Chệch (Nhưng thật ra là: chữ Hán là có sau chữ Việt, nó được mô phỏng theo chữ ta có trước, để rồi hình thành chữ Hán về sau).

          Các dạng chữ này được gọi chung là chữ NHO (Nho trong nghĩa: “Thông thiên Địa Nhân viết Nho”. Đây là nền học thuật giúp ta biết mọi chuyện, cả chuyện trên trời chuyện dưới đất và chuyện nhân sự, nghĩa là chuyện gì cũng biết! Sách của chữ nầy được hình thành từ chiếc gậy trúc có 9 đốt của Long Vương (LLQ) trao tặng cho Thần Tản Viên (sẽ được làm rõ trong những bài TRẢ LỜI BẠN ĐỌC sắp tới). Huyền thoại gọi sách nầy là Sách Ước:

“Sách Úớc trinh nguyên không một chữ

Gậy thần đốt trúc có hai đầu”

(ca dao cổ nói về huyền thoại Sách Ước)

          Nói đúng ra, chữ Nho đúng nghĩa phải là loại chữ được viết dưới dạng Càn (__), Khôn (_ _) <Dịch Càn Khôn> hoặc Nòng Nọc (0. 1) (Dịch Nòng Nọc> mà Kinh Hùng gọi là “triết tự văn hóa”:

“Kinh Châu, Dương Việt hai miền

Triết tự văn hóa lưu truyền dử xanh” …

          _ Cho đến khi nước ta giao tiếp với Bồ Đào Nha và Pháp, chữ viết ta mới được viết theo mẫu chữ alphabet và kèm thêm 5 dấu: huyền, sắc. nặng, hỏi, ngã ,,,, Và, loại chữ nầy ngày một được cải biên hoàn chỉnh và được nhận là CHỮ QUỐC NGỮ, chữ của nước ta.

          Chữ ta, qua thời gian, có nhiều dạng chữ khác nhau như vừa kể trên, nhưng cho dù thế, nó vẫn mang trong nó nhiều tính Dịch (Tính Âm Dương động tĩnh và tính tượng hình Nòng Nọc hay Càn Khôn của dạng chữ Nho thủơ ban sơ, xin được làm rõ hơn trong các phần viết bên kế dưới:

B. PHẦN THƠ GÔM Ý

1. CÁI GÌ LÀ CÁI?, CÁI GÌ LÀ CON?

Cái gì là cái, là con (1)?

“Quan, chiêm, ngoạn” (2) tỏ vuôn tròn cùng thông (3)

Dương, Âm, “con”, “cái” chẳng đồng (4)

Khác nhau nhưng phải “bợ chồng” (5) mới sinh!

2. TĨNH GỌI CÁI, ĐỘNG GỌI CON

Tĩnh gọi cái, động gọi con (6)

Âm dương tính thể vuông tròn phân minh (7)

Rõ là hay ngôn ngữ mình!

Âm dương tĩnh động chưng trình qua đây …

3. TƯỢNG HÌNH TRONG CHỮ VIỆT

Chữ Việt ta vốn tượng hình

Bỏ lời lấy tượng qủa tình là hay (8)!

Nhìn trong chữ viết ta nay

Năm dấu sử dụng thấy ngay tượng hình (9)!

C. PHẦN CHÚ GIẢI

          (1) Chữ “con”, “cái” là mạo tự (article). Với tiếng Việt, chữ nầy mang lấy Dịch tính Âm Dương, tĩnh động rất rõ ràng không mạo tự ( article) như chữ “le”, “la”, les … của tiếng Pháp hay chữ: The, this. that, these, those của tiếng Anh. Mạo tự trong anh hay Pháp không dựa trên một nguyên tắc nào cả. Thí dụ, mạo tự (article) của tiếng Pháp là chữ “le” chỉ giống đực và chữ “la” chỉ giống cái và khi nào dùng “le” hay “la” thì không có qui định rõ ràng. Cái bàn thì dùng article “la” (La table), nhưng cái ghế, lại viết là “le” (le chair) … Ngược lại, mạo tự “cái” và “con” trong Việt chỉ ra tính âm tĩnh và dương động rất rõ ràng: Cái gì không động đậy, không cục cựa là dùng mạo tự “cái”, như cái bàn, cái ghế, cái rựa, cái dao, cái nhà, cái “ấy” của nữ giới … Còn nhửng sự vật động đậy, cục cựa thì gọi “con”, như: con người, con vật, con trai, con gái, con “C…” của nam giới … Ngay cả như để chỉ nước, khi nước chảy (động) nó được gọi là “con” (con sông) mà nước đọng vũng gọi là “cái”, như cái vũng nước, cái ao … Tóm lại, động thì mang dương tính, dùng mạo tự “con” và những thứ mang tính Âm tĩnh thì được gọi là “cái”.

          (2) Quan. Chiêm, nghiệm: Quan sát cái chính nó thể hiện ra và chiêm nghiệm nó để có được tri thức viên mãn từ sự vật chưng trình ra.

          (3) Cùng thông: Thấu triệt tận cùng Đạo Lý của Khôn Càn/Trời Đất do sự vật chưng ra bằng tượng vuông, tính âm chỉ sụ vật không tự chuyển động, xê dịch và tròn mang tính dương động, là dễ lăn, dễ di dịch.

          (4) Âm  Dương/Con Cái là mang khác tượng, rõ nét nhất là tượng của bộ phận sinh dục của con người: “Cái” có tượng lõm, lỗ của cái nòng (0). “Con” có tượng lồi, lòi giống tượng hình của nọc, cọc, c… Lõm lồi, cái con là tượng chỉ âm dương. Âm dương hay cái con tượng có khác, nhưng cần kết hợp, cần “bợ, chồng” mới sinh sôi, muôn loài mới sinh sản. Cô âm hay cô dương đều không sinh. Âm dương phải Đạo của Càn Khôn mới trường tồn: “Nhất âm nhất dương chi vị Dịch”, “nhất âm nhất dương chi vị Đạo”, nhờ  đó mới bảo tồn được muôn loài, muôn vật.

          (5)  “Bợ Chồng” là chữ rất tượng hình của cách làm tình thông dụng nhất của một cặp nam nử đang làm chuyện “ấy”. “Bợ chồng” chưng ra tượng âm nữ nằm dưới “bợ” người nam nằm chồng lên trên. Tượng nầy mang ấn tượng rõ nét chưng ra cái việc “ấy” nơi phòng the nên về sau giới văn gia mang ảnh hưởng của Thanh Nho, cho là tục, thành phụ âm “b” “bợ” được thay bằng phụ âm “v” (vợ): “bợ chồng” thành “vợ chồng” để giảm đi bớt tính mà họ cho là khiêu dâm, tục tiểu. Theo tôi thì không cần thay chữ làm gì, tục hay thanh là do ý con người lắm chuyện dán đặt cho nó. Thực chât đây là Đạo của muôn loài, muôn vật, “Nếu không dâm sao lại nẩy sinh hiền”?! Cha mẹ ông Khổng không làm chuyện “bợ chồng” thì làm sao có được ông “thánh thánh chi thời” hởi các vị sính Khổng Nho?

          (6), (7): Mạo tự được sử dụng trong Việt ngữ là rất phân minh, rõ tàng như đã nói ở phần cước chú (1).

          (8): Bỏ lời lấy tượng, bỏ tượng lấy ý, bỏ ý lấy Đạo (Lời dạy của người xưa để học Dịch.

          (9): Chữ quốc ngữ hôm nay tuy không được viết bằng nét chữ mang tính tượng hình nhưng nhờ qua việc sử dụng 5 dấu để diễn tả âm sắc (timber) của nó giúp ta đạt tượng của sự vật, như:

          _ Dấu huyền (__) chỉ những vật thể có tượng nằm ngang như là hình tượng của dấu huyền ngang (__). Thí dụ chữ nhà, tường, thành, nằm, trường …

          _ Dấu sắc (/) chỉ sự vật thẳng đứng như tượng hình của dấu sắc, như: đứng, cấy lúa, cuốc, núi, rớt (rơi rớt), cắm xuống, úp (úp nôm) giáo, mác, viết lách  …

          _ Dấu nặng có tượng là một chấm tròn, chỉ những sự vật gôm tụ lại, mang hình tượng của dấu nặng như: Bợ, tụ hợp, vụn vặt, chạy (có tượng hình dấu chân trên đất, trên cát) …

          _ Dấu hỏi có tượng khum khum, lửng (lơ lửng), nhảy, lỏng lẻo …

          _  Dấu ngã nơi những chữ có tượng giống tượng hình của dấu ngã: Ngã ngửa, té ngã, vỡ (tan vỡ), lững thững …  

          Cảm ơn qúi vị đã bỏ thời gian ra đọc. San Jose, 22/6/20. NVN

Trả lời

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất /  Thay đổi )

Google photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google Đăng xuất /  Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất /  Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất /  Thay đổi )

Connecting to %s