Phân xử cuộc tranh chấp giữa nhà giáo Hà Huy Toàn và triết học gia Paul Nguyễn Hoàng Đức.

Từ trái sang phải: triết học gia Nguyễn Hoàng Đức (đang viết) và nhà giáo Hà Huy Toàn (đeo bông hoa)

Nhà giáo Hà Huy Toàn nói rằng Paul Nguyễn Hoàng Đức tự xưng “triết gia”. Thực ra cái đó không sao cả. Tôi-có trình độ xấp xỉ đại học, cũng gọi cô giáo nhà bên chỉ học hết cấp 3 là cô giáo, xưng mình là học trò của cô, cũng chẳng ngại gì. Cô xưng là cô, cũng không thành vấn đề mấy. Vì vậy, nếu ông Nguyễn Hoàng Đức có tự xưng mình là cái gì “gia” cũng không sao cả, với điều kiện là ông làm tốt.

Cái sai của ông Nguyễn Hoàng Đức ở đây là ông không phân biệt được giữa “triết học gia” và “triết gia”. Điều này rất dễ nhầm lẫn. Chẳng hạn, sinh viên khoa triết học ra trường thường viết: “Đông phương có hai triết gia là Lão Tử và Khổng Tử”.

Ta phân tích câu văn tân thời kể trên:

Lão có những câu nói rất hay: “Bần cùng sinh đạo tặc-Loạn lạc xuất anh hùng.” Hồi đầu tiên cầm cuốn sách Đạo đức kinh của Lão ai cũng thích. Nhưng, những câu như trên đúng thì đúng thật, nhưng có bậc phụ huynh nào dám treo những lời của Lão Tử cho con trẻ ấu thơ đọc chăng? Hẳn là không, tuổi thần tiên không nên nghe những câu sắt thép như vậy.  Dù Lão là bậc thượng trí, không ai muốn con trẻ của mình ngấm những lời của Lão Tử khi nó còn thơ ấu cả. Vì vậy, trong nhân gian chỉ có thầy đồ Nho mà không có thầy đồ Lão là vậy. Lão Tử  là một “triết học gia”.

Trong khi đó, Khổng có những câu nom có vẻ như cách ngôn, ai cũng nói được,  mà lại đi được xa, tuổi nào cũng đọc được. Ví dụ như câu “Thiên lý tại nhân tâm”. Một câu khác,  “Lộc tại kỳ trung hỹ”, dạy trẻ em rằng phước lộc của cuộc đời con nằm ngay trong lòng con. Vì vậy, ai cũng muốn gửi con đến nhà thầy đồ Nho.

Đường lối của Khổng không đi vào kết cấu thành ý hệ nhưng lung linh huyền ảo. Lối giáo dục của Khổng chú trọng Kinh Thi. Chẳng hạn, một đứa trẻ Tàu vào năm 3 tuổi được tập viết bài Quan quan thư cưu. Đến năm 10 tuổi nó vẫn chỉ thuộc lòng. Đến năm 18 tuổi, tuổi cập kê, thì nó mới nhớ lại bài này để đi cưa gái. Đến năm 30 tuổi nó lại nhớ lại bài thơ này và ngấm sâu sắc hơn trong việc quản trị gia đình. Rất khó nhìn ra sự thành công của ông Khổng, cũng như, rất khó nhìn ra sự thành công của vua Bảo Đại- một cây viết lấy lại được hết các phần lãnh thổ cha chú mình đã trao cho Pháp. Nói về giáo dục, Khổng thành công rực rỡ. Khổng là triết gia.

Đến đây, bạn đọc đã hiểu tại sao lại có sự phân biệt tinh vi đến như vậy: Lão Tử là triết học gia, còn Khổng là triết gia. Đặc điểm của triết gia là có nhân cách quyến rũ, nhiều người đi theo cách tự nguyện. Vì vậy, chúng ta nhớ tên những đệ tử đầu tiên của Khổng, nhưng không ai biết tên nhóm đệ tử đầu tiên của Lão.

Vậy, Paul Nguyễn Hoàng Đức là “triết học gia” chứ không phải “triết gia”. Nếu Nguyễn Hoàng Đức gọi mình là triết học gia thì cũng đúng, chẳng có gì đến nỗi gọi là “tự phong” hay “tự xưng”.

Ngày nay, bắt đứa con nít 3-4 tuổi làm toán suy luận, người đời nom có vẻ là thành công, gọi cho nó danh hiệu “thần đồng”. Những người ở tầm cao nhất mới biết bắt đứa con nít tư duy sớm là một tội ác.  

Nhan Hồi, cậu học trò xuất sắc nhất, nhưng chết sớm nhất của Khổng, nhìn ra được vấn đề và than: “Chiêm chi tại tiền-Hốt nhiên tại hậu.” Đạo của thầy thoạt trông thì ở đằng trước, phút chốc đã ở đằng sau.

Cũng giống như nhà giáo Hà Huy Toàn, đầu tiên tôi tưởng thầy Kim Định lập thuyết dựa vào Việt tộc là trung tâm so với Hoa tộc và các tộc khác. Nhìn kỹ, hóa ra thầy Kim Định lập thuyết dựa vào thái độ nhân chủ hay địa chủ hay thần chủ. Với thần chủ, người phụng sự thần, có Babylon (xây đền đài miếu mạo cho vua), Miến Điện (Angkor Vat, Angkor Thom). Với địa chủ, người phụng sự thế giới ý niệm, có Hy Lạp, kết cấu thành logique –ý hệ từ rất sớm. Logique là một trong những công cụ để kiểm tra chân lý. Để kiểm tra xem một thứ có phải là chân lý hay không thì phải dùng rất nhiều công cụ.

Với nhân chủ, duy nhất có Việt tộc từ miền nam nước Tàu trở xuống và người Maya, một nhánh của Việt tộc đã di cư được sang châu Mỹ. Vì vậy có thể nói rằng nhìn gần, tưởng triết của giáo sư Kim Định là triết Việt Nho, nhìn kỹ, thì đó là triết An Vi.

Trong ba thái độ sống ấy, thái độ sống nào là đúng? Thưa, tùy vào quan điểm của mỗi người. Nếu so sánh xem nước nào đã bãi bỏ nô lệ truyền kiếp sớm nhất địa cầu, thì đó không phải là Babylon thần chủ hay cõi Hy Lạp ý hệ, mà là nước Việt Nam, là do xứ ta đã sống trong thái độ An Vi- người phụng sự vui chơi với người. Mời xem kỹ trống đồng để thấy những tang chứng của cha ông.

(hết phần 1)

Ngày 10 tháng 08 năm 2020.

Tôn Phi.

Email: tonphi2021@gmail.com

            Whatsapp: +84344331741

5 thoughts on “Phân xử cuộc tranh chấp giữa nhà giáo Hà Huy Toàn và triết học gia Paul Nguyễn Hoàng Đức.

  1. Tôi không hiểu triết. Đọc triết tôi đau đầu. Tôi chỉ “kính nhi viễn chi”. Nhưng tôi quan tâm đến Paul Nguyễn Hoàng Đức bởi nhiều phát ngôn của ông. Tôi muốn được nghe phân xử của Tôn Phi và nhiều người khác nữa. Tại sao chuyện Paul Nguyễn Hoàng Đức muốn một mình đấu (tranh luận)với tất cả về triết học lại chỉ có lơ thơ vài người viết lại và sau đó Paul NHĐ đáp lại, rồi cũng im. Thậm chí cả với Hội Nhà văn nghìn người, Paul NHĐ cũng muốn tranh luận, mà hội cũng im. Hiện tươngj Paul NHĐ, tôi nghĩ, con người này là một hiện tượng, rất đáng quan tâm.
    Phần nữa, tác phẩm ông viết nhiều và nhanh, đủ thể loại nhưng đã có một nhà nghiên cứu nào có chuyên đề chưa? Có hội thảo KH chưa?

    Số lượt thích

Trả lời Thai Salem Hủy trả lời

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất /  Thay đổi )

Google photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google Đăng xuất /  Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất /  Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất /  Thay đổi )

Connecting to %s