Hồi âm triết học gia Nguyễn Hoàng Đức về câu nói: “Văn học Việt Nam nghèo nàn.”

Ảnh: triết học gia Nguyễn Hoàng Đức.

Cách đây khá lâu, có cuộc tranh luận do triết học gia Paul Nguyễn Hoàng Đức mở. Tác giả Paul Nguyễn Hoàng Đức chê là văn chương Việt Nam nghèo nàn. Truyện Kiều không xứng đáng được gọi là kiệt tác.

Nhận xét của tác giả Paul Nguyễn Hoàng Đức không phải hoàn toàn sai. Nhất là khi ông chỉ ra rằng, trên cốt truyện sẵn có Kim Vân Kiều Truyện của Thanh Tâm Tài Nhân bên Tàu mới có Truyện Kiều của Nguyễn Du. Thế kỷ trước, chí sĩ Ngô Đức Kế ở Hà Tĩnh còn chửi, tựa đề “Kim Vân Kiều Truyện” là do một anh Tàu dốt nào đó nghĩ ra, vì đáng lẽ phải gọi Kim-Kiều-Kiều truyện, hoặc Trọng-Vân-Kiều truyện, đằng này thứ tự người được gọi họ, người được gọi bằng tên, khiến cho người có tư duy lô-gic biện bạch không ai chịu nổi.

Truyền thông bề mặt, chạy theo thị hiếu lợi nhuận nên không có “đất trống” để giới thiệu các tác phẩm cổ điển của dân tộc, cho nên người ngoài mới thấy văn học mình nghèo nàn. Kể cả cô giáo trường sư phạm văn. Phải những người chuyên ngành văn học mới thấy thực sự khó khăn khi lùng cho hết kho tàng ấy. Đại học Văn Khoa Sài Gòn nếu không bị giải tán sẽ làm được điều này. Ở cấp độ người dùng, những bài thơ thông dụng của ta cũng hơn các nước khác.

Trên đồng cạn, dưới đồng sâu

Chồng cày vợ cấy con trâu đi bừa.


Bên Tây không thể nào có nổi những vần thơ như thế.

Hoặc:Anh đi anh nhớ quê nhà

Nhớ canh rau muống nhớ cà dầm tương (Á Nam Trần Tuấn Khải).

Khi người Việt chê cha ông mình, thì bên Tây họ đánh giá những câu thế này thực lớn.


Trên đồng cạn, dưới đồng sâu
Chồng cày vợ cấy con trâu đi bừa.

Bên Tây không thể nào có nổi những vần thơ như thế.
Hoặc:
Anh đi anh nhớ quê nhà
Nhớ canh rau muống nhớ cà dầm tương (Á Nam Trần Tuấn Khải).
Khi người Việt chê cha ông mình, thì bên Tây họ đánh giá những câu thế này thực lớn. Nói cách khác cho đơn giản. Hồi nhỏ ta thường hay xem phim cổ trang Trung Quốc, thấy võ sư Trung Quốc toàn luyện các môn thần công thần chưởng, võ nghệ đẹp mắt. Thế tại sao một lính của Quang Trung giết được khoảng 5 lính của nhà Thanh? 1 lính của Lê Lợi giết được 3 lính của nhà Minh? Võ nghệ nom đẹp mắt nhưng không có giá trị bằng võ Việt . Cũng vậy khi so sánh văn chương Tây Âu với văn chương nước ta.

Văn sĩ và nhà văn.

Trước hết, ta phân biệt hai khái niệm, văn sĩ và nhà văn. Văn sĩ sáng tác ra được những tác phẩm văn hóa hậu trường, giải quyết một sự bức bối, còn những tác phẩm có giá trị văn chương- xứng đáng làm hướng đạo sư cho cuộc tồn sinh này, thì chỉ có nhà văn đích thực mới làm ra được.

Văn sĩ là Nguyễn Ngọc Tư, Nguyễn Thanh Việt, Hữu Thỉnh, Phan Hoàng…Ai cũng có thể trở thành văn sĩ được, chỉ cần biết đọc và biết viết. Các tác phẩm ở trình độ văn sĩ thường có sức hút trong một thập kỷ khi mới ra đời. Tác phẩm nào khá hơn thì được ngót nghét khoảng 7, 8 chục năm.

Trong khi đó, trình độ nhà văn là có những tác phẩm mà sức sống của nó lên đến vô tận. Ví dụ, bài thơ Quan quan thư cưu được đánh giá là bài thơ hay nhất mọi thời đại. Vì sao chỉ với 4 dòng ngắn ngủi mà lại đi xa được như vậy? Vì nó không cần kích dục, không cần chửi thề, chỉ cần tả thực, mà vẫn gây được hứng thú cho cuộc tồn sinh. Quan quan thư cưu là một tác phẩm ở trình độ văn hào, tức là trình độ nhà văn ở cấp rất cao.

Quan quan thư cưu

Tại hà chi châu

Yểu điệu thục nữ

Quân tử hảo cầu

Trong khi đọc với cặp mắt phê phán, chúng ta nhận ra ngay nội dung Kinh Thi phần lớn thuộc Viêm tộc, vì bầu khí cởi mở, đàn bà tương đối còn thong dong, ca múa tưng bừng…Đã vậy ta còn thấy chứng cứ về địa vực. Thí dụ bài đầu:

Quan quan thư cưu

Tại hà chi châu.

Nếu đọc vội thì ta cho Hán Nho nói đúng khi bảo Kinh Thi thuộc phương Bắc, vì ở phương Bắc gọi sông là Hà (Hoàng hà, Cửu hà), còn bên Nam thì kêu là Giang (Trường giang, Hoài giang, Việt giang…). Chắc nhiều học giả đã nghĩ như thế (ấy là nếu có óc phê bình nhận xét) nhưng khi đọc kỹ liền nhận ra chữ Hà ở đây không phải là sông mà là gò giữa sông. Vậy dù có chữ Hà cũng không trở ngại việc chỉ cho miền Dương Tử giang. Vậy, di sản văn chương người Việt đã là rất lớn. Chẳng hạn bài thứ 9:

Trên bờ sông Hán ai ơi

Có cô con gái khó ai mơ mang

Mênh mông sông Hán sông Giang

Lặn sang chẳng được bè sang khó lòng.

Địa bàn ở đây là châu Kinh, châu Dương, châu Hoài,…của Việt Nam cổ đại. Nếu vậy thì số tác phẩm và số tác giả đều lớn. Vì bị đánh bật khỏi nước non nên chúng ta mang trong mình mặc cảm tự ti, mất đi lòng tự tín dân tộc. Cho nên, ông Paul Hoàng Đức chê văn học Việt là điều dễ hiểu. Đọc trong “Thầy Lazaro Phiền” còn thảm thương hơn thế nữa.

Truyện Kiều sử dụng ngôn ngữ (tiếng Việt) ở cấp độ hoàn hảo, thể hiện được số phận, thể hiện được một tâm hồn dân tộc của một giống dân, cho nên xứng đáng được gọi là kiệt tác của dân tộc đó. Đó là bên trong nhìn ra. Còn bên ngoài nhìn vào, truyện Kiều thể hiện nguyên vẹn một xã hội viễn Đông, cô đọng và trầm lắng, trong suốt cả quyển truyện Kiều còn là bài nhạc buồn, chứa đựng những suy niệm nhân sinh, không dành riêng cho quý tộc (như văn học Tây Âu) mà làm vừa lòng cả đại chúng ở nhiều cấp độ nhân thực, cho nên thế giới rất đánh giá cao Truyện Kiều.

Trung Quốc có thi hào (Lý Bạch) nhưng không có đại thi hào. Việt Nam ta có đại thi hào Nguyễn Du. Đó là một niềm tự hào thực lớn. La Mã văn chương hoành tráng như vậy ,lắm tác phẩm in thành sách như vậy, thực ra không có kinh điển dân tộc, thần thoại La Mã phải mượn từ thần thoại Hy-Lạp từ nhân vật đến cốt truyện. Họ rất nghèo nhưng xóm làng địa cầu lại tưởng họ giàu. Jean Paul Sartre cũng chỉ được có ba bốn chục năm. Các tác giả khác cũng gây cơn bão trong tách trà một thời rồi tắt. La Mã có căn bệnh hay thần thánh hóa một nhà văn trong vòng hai, ba chục năm, để rồi khi nhìn lại cả ngàn năm thì lại không có gì. Nước Anh may có được Wiliam Sheakpeare, đã phản động lại cả tập quán văn nghệ đó, tương truyền một bá tước sang tác ra, nhưng không dám ký tên, đưa cho anh chủ gánh xiếc  Wiliam Sheakpeare ký tên hộ. Nói vậy, bên Việt ta tự do văn chương hơn. Một đất nước mà nhà nhà sáng tác văn chương, mọi ông thầy đồ đều văn chương lai láng đầy hai hang (tục ngữ Hà Tĩnh), thiên triều Trung Hoa phải ban bảng khen tặng: Văn hiến chi bang. Bang của những người hi hiến thân tâm cho văn tổ. Nếu không bị Trung Quốc đốt hết sách, mà cao điểm nhất là thời nhà Minh, thì kho tàng văn chương của chúng ta có khoảng gấp 10 lần ngày nay.  

Ví dụ khác về ngành văn học ở nước Anh. Sinh viên ngoại quốc đến Anh có thể học và thành công trong IT, điện toán, cơ khí, kinh tế, thậm chí cả báo chí truyền thông…Nhưng không một ai có thể học thành công ngành “Văn học Anh” (English literature) vì văn học là một ngành đặc biệt, chỉ người bản địa nói tiếng mẹ đẻ mới hiểu sâu sắc các tác phẩm và phân tích chúng thành công.

Văn sĩ thì thời nào cũng có. Ngày nay, làng nào cũng có. Nhà văn thì chục năm cũng có vài người. Văn hào thì khoảng mấy trăm năm mới họa hiếm có một.

Tôn Phi.

Email: tonphi2021@gmail.com

Whatsapp: +84344331741

5 thoughts on “Hồi âm triết học gia Nguyễn Hoàng Đức về câu nói: “Văn học Việt Nam nghèo nàn.”

  1. Tại sao giới xã hội đen thờ Quang Vũ? Vì coi phim Tàu quá nhiều.
    Nếu đem Quang Vũ ra để so sánh với Đức Thánh Vương Trần Hưng Đạo thì Quang Vũ còn thua xa lắm. Quang Vũ một thành Kinh Châu còn không giữ nổi khi Gia Cát Lượng và Lưu Bị đã giúp cảnh tỉnh. Còn Đức Thánh Vương Trần Hưng Đạo 3 lần tiêu diệt quân Nguyên Mông.

    Số lượt thích

Trả lời Vinh Anh Hủy trả lời

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất /  Thay đổi )

Google photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google Đăng xuất /  Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất /  Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất /  Thay đổi )

Connecting to %s