Nghiêm Sỹ Cường: “Trí thức là gì?”

Tác giả Nghiêm Sỹ Cường gửi đến Trung tâm Văn Bút Việt Nam.

Gặp gỡ và chuyện trò với nhiều người, mình thấy phần lớn họ vẫn mơ hồ về khái niệm “trí thức”, mọi người đều nghĩ rằng cứ có bằng cấp như giáo sư, tiến sĩ… thì có thể gọi là trí thức. Vì vậy, mình viết ra một số suy nghĩ về chủ đề này, mong mọi người góp ý thêm.
……………………………………………………..

I. TRÍ THỨC LÀ GÌ?

1.Trí thức, trước hết phải là người có TRÍ TUỆ, tức là phải có kiến thức, hiểu biết về các lĩnh vực của cuộc sống nói chung. Những cá nhân được coi là có trí tuệ, nếu như sự nhận thức và hiểu biết của họ về các lĩnh vực của cuộc sống ở mức khá trở lên và không nhất thiết là phải có bằng cấp hay địa vị xã hội (điểm này đặc biệt đúng ở xã hội Việt Nam hiện nay). Để dễ hiểu, chúng ta có thể lượng hóa một cách đơn giản : Nếu những người có trí tuệ xuất sắc nhất đạt mức tối đa 10 điểm, thì những người đạt mức 7 điểm trở lên có thể coi là có trí tuệ, tức là họ có thể hướng dẫn và giảng dạy những người chỉ đạt điểm 6 trở xuống. Khi có trí tuệ, người trí thức sẽ không có những hành động ngu muội, phản khoa học, đi ngược lại với các qui luật khách quan của tự nhiên, xã hội và tư duy…
2. Trí thức phải là người có NHÂN TÍNH, tức là có tính người, nhân văn, lương thiện. Khi có nhân tính, người trí thức sẽ không bao giờ có những hành động bất nhân, tàn ác với đồng loại, với thế giới xung quanh, dù họ ở bất cứ cương vị nào và vì bất cứ động cơ, hay lí do gì.
3. Trí thức phải là người có DŨNG KHÍ, tức là họ dám dấn thân phụng sự xã hội, dám chống lại những bất công, bạo quyền, gian ác, dối trá, phản khoa học…đúng như Lỗ Tấn từng nói “ Trợn mắt xem khinh nghìn lực sỹ / Cúi đầu làm ngựa các nhi đồng ”.
4. Như vậy, một cá nhân, khi có đầy đủ cả ba tố chất : TRÍ TUỆ, NHÂN TÍNH và DŨNG KHÍ mới xứng đáng gọi là trí thức. Người trí thức, trong mọi hoàn cảnh sẽ luôn biết cách sống và hành động phù hợp với các chuẩn mực xã hội với mức văn hóa cao nhất. Nhờ các tố chất trên, trí thức coi nhẹ cuộc sống vật chất và không sợ bạo quyền, họ luôn sử dụng trí tuệ của mình để đánh thức khi xã hội đang“ say”, đang ngủ” li bì. Họ dám nói lên tiếng nói phản biện để chống lại các chính sách phản động, ngu dân của giới cầm quyền.
5. Những người được gọi là trí thức luôn biết rung cảm, biết vui, biết buồn, biết lo… với thế giới xung quanh, với niềm vui, nỗi buồn và nỗi lo… của thiên hạ.. Còn với đám người có thể được học hành, có KIẾN THỨC nhưng lại thiếu NHÂN TÍNH hoặc DŨNG KHÍ, họ bất chấp lẽ phải, bất chấp chân lí, sẵn sàng bẻ cong ngòi bút, a dua, ninh hót cho bọn độc tài áp bức nhân dân để ” Vinh thân phì gia “, thì chỉ được coi là phường “ Giá áo, túi cơm ”, không thể gọi là trí thức được, cho dù họ có giỏi chuyên môn và có địa vị cao đến đâu, nếu muốn chỉ có thể gọi thành phần này là nhà chuyên môn, hoặc ” lưu manh giả danh trí thức “. Với đám người này, nhiều khi, kiến thức của họ càng cao thì tai họa họ gây ra cho xã hội càng lớn.
6. Vì có những tố chất kể trên, nên những kẻ độc tài rất sợ và ghét trí thức, bởi vì trí thức luôn lên tiếng phản biện về nhiều vấn đề của xã hội, không trực tiếp liên quan tới bản thân mình. Họ có thể gây cản trở và có nguy cơ làm phá sản các chính sách phản động, ngu dân của giới độc tài.


II. MỘT SỐ TRÍ THỨC ĐIỂN HÌNH TRONG LỊCH SỬ VIỆT NAM.
1. Cụ Chu Văn An (1292 – 1370), quê ông thuộc xóm Văn, xã Thanh Liệt, huyện Thanh Trì, Hà Nội. Ông là người chính trực, đã từng đỗ Thái học sinh nhưng không ra làm quan mà về quê mở trường dạy học.Vua Trần Minh Tông (1300–1357) mời ông ra làm tư nghiệp Quốc tử giám, dạy cho Thái tử Trần Vượng, tức là vua Trần Hiến Tông tương lai. Đến đời Dụ Tông, ông thấy quyền thần làm nhiều điều vô đạo, ông dâng Thất trảm sớ xin chém 7 tên gian nịnh, nhưng vua không nghe. Ông chán nản từ quan về ở núi Phượng Hoàng (Chí Linh, Hải Dương), lấy hiệu là Tiều ẩn (người hái củi ở ẩn)dạy học, viết sách cho tới khi mất.
2. Cụ Nguyễn Bỉnh Khiêm (1491-1585), quê quán, xã Lý Học, huyện Vĩnh Bảo, thành phố Hải Phòng. Lớn lên trong thời kỳ xã hội suy đồi, suốt hơn 20 năm, Nguyễn Bỉnh Khiêm đã bỏ qua tới 9 kỳ đại khoa. Đến tận năm 1535, khi chính trường tương đối trong sạch, ông tham gia kì thi đầu tiên, đậu ngay Trạng nguyên, khi ông đã 45 tuổi. Làm quan tại triều đình được 8 năm, thấy triều chính lại đổ nát, Nguyễn Bỉnh Khiêm đã dâng sớ trị tội 18 lộng thần (trong đó có cả con rể của ông là Phạm Dao làm Trấn thủ Sơn Nam) nhưng không được vua chấp thuận. Bởi vậy, năm 1542 ông xin về quê trí sĩ.
3. Cụ Nguyễn Hiến Lê (1912–1984), quê ở làng Phương Khê, phủ Quảng Oai, tỉnh Sơn Tây (nay thuộc huyện Ba Vì, Hà Nội). Năm 1934, ông tốt nghiệp trường Cao đẳng Công chính Hà Nội rồi vào làm việc tại các tỉnh miền Tây Nam Bộ.

Ông Nguyễn Hiến Lê.

Sau năm 1945, ông thôi làm ở sở, đi dạy học ở Long Xuyên. Năm 1952 chuyển lên Sài Gòn mở nhà xuất bản và biên dịch sách, sáng tác, viết báo.Trong đời cầm bút của mình, ông đã xuất bản được khoảng 120 bộ sách, về nhiều lĩnh vực: văn học, ngôn ngữ học, triết học, tiểu luận phê bình, giáo dục, chính trị, kinh tế, gương danh nhân, du ký, dịch tiểu thuyết, học làm người… Nguyễn Hiến Lê luôn là một cây bút có tiếng, viết miệt mài và là một nhân cách lớn. Trong hồi kí của mình ông kể, vào cuối thập kỉ 60 của thế kỉ 20, khi phong trào Hippie đang thịnh hành trong giới trẻ Miền Nam. Với tài năng và uy tín của mình, Nguyễn Hiến Lê được rất nhiều nhà xuất bản đặt hàng dịch các cuốn sách cổ vũ cho trào lưu này và trả công rất cao, nhưng ông đều từ chối, vì ông cho rằng, những cuốn trách này không tốt cho văn hóa truyền thống dân tộc và có hại cho lớp trẻ. Năm 1966 và 1973, hai lần ông được chính quyền Việt Nam Cộng Hòa trao giải “ Tuyên dương văn học nghệ thuật ”, là giải thưởng về văn học, nghệ thuật danh giá nhất tại Miền Nam trước 1975, với trị giá giải thưởng khá cao (tương đương 25 lượng vàng thời đó), nhưng cả hai lần ông đều từ chối vì ông không hài lòng với một số chính sách của VNCH. Sau 1975, ông cũng không nhất trí và góp nhiều tiếng nói phê phán mạnh mẽ chính sách của chế độ mới, chính vì thế ông cũng bị nhiều o ép về cuối đời . Sách do ông viết và dịch, là những cuốn sách gối đầu giường của bao thế hệ người Việt Nam : Đắc nhân tâm, Quảng gánh đi mà vui sống, Sống đẹp, Gương hi sinh, Gương kiên nhẫn, Gương chiến đấu, Ý chí sắt đá… Đóng góp của ông cho nền văn hóa nước nhà là vô cùng lớn lao, là vô đối và khó có thể đo lường được. Đáng tiếc, những con người có công lớn như thế với quốc gia lại không được tôn vinh, ít người biết đến. Quả thực, mình chưa bao giờ thấy một ngôi trường, một con đường hay địa danh nào đó mang tên ông, mà đúng ra nó phải được xuất hiện rất nhiều trên đất nước này.
4. Cụ Nguyễn Mạnh Tường (1909-1996), quê ở phố Hàng Đào, Hoàn Kiếm, Hà Nội. Năm 23 tuổi đă đậu hai bằng Tiến sĩ Văn khoa và Luật khoa ở Đại học Montpellier, Pháp. Ông được xếp hạng thứ 99 trong số 7500 luật sư giỏi nhất thế giới.

Năm 1936 ông về nước, tham gia giảng dạy văn chương song song với việc hành nghề luật sư. Từ khi về nước, ông Tường cương quyết từ chối phục vụ cho chính quyền thực dân Pháp và sau đó khi Nhật lật Pháp, ông cũng từ chối phục vụ người Nhật.. Sau 1945, ông đi theo kháng chiến chống Pháp tới ngày ký Hiệp định Genève 1954 thì trở về Hà Nội dạy học và quản lí trường Đại học Văn khoa. Ngày 30 tháng Mười, 1956, trong một phiên họp của Mặt trận Tổ quốc ở Hà Nội, l.s. Nguyễn Mạnh Tường đọc bài diễn văn “Qua những sai lầm trong cải cách ruộng đất, xây dựng quan điểm lãnh đạo”, phê phán mạnh mẽ những sai lầm và hậu quả nặng nề gây ra trong cải cách ruộng đất. Vì bài diễn văn này, ông Tường bị tước hết mọi chức vụ và danh vị nghề nghiệp và phải sống những năm cuối đời vô cùng thiếu thốn, cô lập…. Năm 1991, nhân dịp được phép sang Pháp ông đưa cho nhà xuất bản Quê Mẹ ở Paris in và phát hành cuốn sách tự thuật L’excommunié (Kẻ bị khai trừ) năm 1992. Ông trở về Hà Nội và mất năm 1996, thọ 87 tuổi.


5. Cụ Nguyễn Khắc Viện (1913 – 1997), nhà hoạt động chính trị – xã hội, nhà nghiên cứu văn hóa và tâm lý – y học- giáo dục, Ông quê ở làng Gôi Vị, nay là xã Sơn Hòa, huyện Hương Sơn, tỉnh Hà Tĩnh.

Bác sĩ Nguyễn Khắc Viện.

Ông học rất giỏi, năm 1937, ông được sang Pháp học tại Đại học Y khoa Paris. Năm 1941, ông tốt nghiệp bác sĩ 2 bằng: nhi khoa và các bệnh nhiệt đới nhưng do Thế chiến thứ hai bùng nổ nên ông không thể trở về và tham gia hoạt động phong trào Việt kiều. Trong thời gian này, ông mắc bệnh lao và phải điều trị dài hạn trong trại an dưỡng Saint Hilaire du Touvet, tỉnh Grenoble, một bệnh viện dành cho trí thức và sinh viên Pháp. Sau 6 tháng điều trị, bệnh có đỡ, ông xin ra viện tiếp tục hoạt động. Nhưng vì ăn uống kham khổ và làm việc quá sức, bệnh tái phát.Năm 1943-1948: Ông lại vào bênh viện, phải lên bàn mổ 7 lần, cắt bỏ 8 xương sườn, toàn bộ phổi phải và 1/3 phổi trái, tưởng không thể thoát chết. Nhưng nhờ nghị lực cao, dần dần lấy lại sức, vừa nằm điều trị, vừa đọc sách triết học Đông – Tây, tìm ra phương pháp dưỡng sinh hợp với thể bệnh của bản thân để tự cứu chữa và giúp đỡ cải thiện sức khỏe cho rất nhiều người. Năm 1963, ông về Việt Nam, là người yêu nước nồng nàn, ông đặc biệt quan tâm và đóng góp rất nhiều cho sự nghiệp phát triển thể chất và tinh thần cho trẻ em Việt Nam, trong giai đoạn đất nước gặp nhiều khó khăn. Năm 1992, Nguyễn Khắc Viện được trao giải thưởng Grand prix de la Francophonie của Viện Hàn lâm Pháp. Với tấm lòng yêu trẻ thiết tha, ông đã cống hiến phần lớn khoản tiền thưởng 400.000 franc (tương đương 80.000 USD) cho quỹ của Trung tâm Nghiên cứu Tâm lý Trẻ em (Trung tâm NT) ….

Nghiêm Sỹ Cường.

Liên lạc tác giả: Nghiemsicuong@gmail.com

Tác giả Nghiêm Sỹ Cường.

2 thoughts on “Nghiêm Sỹ Cường: “Trí thức là gì?”

Trả lời

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất /  Thay đổi )

Google photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google Đăng xuất /  Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất /  Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất /  Thay đổi )

Connecting to %s