Việt Đạo diễn thơ.

Sinh nhật ông ngoại.

Nguyễn Việt Nho.


LỜI TỰ BẠCH
Thời gian cầm súng dài hơn cầm viết
Nên sống thơ thưa thiệt chẳng là bao
Thì văn chương, chữ nghĩa dám đâu nào
Chen chân với làng văn hào thi bá
Nhưng ngặc nỗi còn ơn cha, nghĩa má
Tình xóm làng, đồng đội, vợ con
Tuổi thất tuần đâu phải tuổi còn son
Mà còn sống nghĩa là còn vay nợ!
Phó mặc, buông xuôi, phận hèn nên chớ ?
Lòng nghe đau nhìn biên giới lùi dần!
Chính quyền ư? _ Toàn một lũ buôn dân!
Con cháu hả? Đang xa dần nguồn tổ

Đất tạm dung ba bữa tuy no
Nhưng đâu đây nghe thoảng Hời hò
Với hình ảnh nước non Chàm xưa cũ
Quên sao được ngày đồng minh bức tử
Thân ươn hèn không giữ vẹn với non sông
Người chiến binh da ngựa cũng đã không
Và giờ súng cũng không và hàng ngũ cũng không
Biết làm gì đây nhỉ!
Khi quê nhà loài quỉ vẫn còn kia
Thì GÓP NHẶT LỜI QUÊ là lời góp đá đề bia
Cho kẻ mơ Hồ không còn mơ hồ nữa
Cho người dấng thân tháng ngày lần lữa
Không rơi vào vết xe đổ ông cha
Để đời đời dòng huyền sử mãi thăng hoa
Cho sáng nghĩa sách Ông () Bà (_ )

Sách ước

GÓP NHẶT LỜI QUÊ là viên gạch lót đường người sau về cùng người trước

Để trăm trứng theo Cha, theo Mẹ vuông tròn

Để Mẹ già muôn thuở đứng đầu non

Mắt vọng biển thôi mõi mòn trông đợi

Lòng của Mẹ như trời cao vời vợi

Mấy vần thơ sao diễn hết tình nầy?!

Đạo chuyển nhờ văn đành tạm mượn nơi đây

Trong tình ý đó LỜI QUÊ xin trình bày qua nhiều tiểu mục:

Viết cho người thân kính 2 _

Viết cho vợ _

Viết cho con _

Viết cho những cuộc tình _

Cho anh chị em trong tù, _

Cho bạn,

_ Cho thù

_ Cho người xướng họa

_ Cho mình

_ Cho ai

_ Cho đời

_ Cho cả tương lai

Dựa trên di chúc còn hoài ngàn năm …

San Jose, 2004

CÓ MỘT CHÚC THƯ (Khắp trong thế giới gần xa Biết ai tri kỷ mà ta đến cùng ?)

Có một chúc thư

Có từ thời huyền thoại

Khi Ông Bà buổi khó phải chia con

Bao ngàn năm di chúc mãi vẫn còn

Thư không chữ mà chấm tròn đen trắng

Một trăm trứng trên hai hình vừa vặn

55 con được xếp trên tượng Hà

Là đồ hình của nửa đám theo cha

Di chúc đó là do Bà tạo nặn

Lập di chúc còn kèm theo lời dặn

“Đông có mầy và Tây lại có tao”

Dẫu theo Cha, Mẹ vẫn đồng bào

Tựa như thể bầy gà cùng chung Mẹ

Và tựa như bánh chưng, dầy riêng rẽ Mỗi hình đồ mang một ý chứ trong

Chúc thư Cha do mẹ viết hầu mong

Hầu nhắc nhở Hà Đồ mang định tính

Hình Lạc Thư số 45 thiên định

Là của Ông vẽ tặng đám ở nhà

Nhằm định phương và định vị nước ta …

Cho dẫu đã trải qua bao niên kỷ

Hình Đồ Thư mãi vẫn còn huyền bí

Huyền bí vô cùng và mầu nhiệm vô song

3

Trạng Trình xưa phải chăng được truyền dòng

Nên Ông đã quán thông dòng vô tự:

“Sách Ước Trinh Nguyên không một chữ

Gậy thần đốt trúc có hai đầu”

Sấm để đời cụ Trạng viết nhờ đâu

Chúng ta hãy lắng nghe ông tâm sự

Khi ông viết sấm truyền dòng Việt sử

Xin trích ra để quí vị định toan:

“Nước Nam từ thuở Hồng Bàng

Đổi thay cuộc thế giang san chuyển vần

Từ Đinh, Lê, Lý, Trần thuở trước

Đã bao lần vận nước đổi thay

Núi song thiên định đặt bày

ĐỒ THƯ một quyển xem ngay mới rành”

Nay mấy dòng mời anh, mời bạn

Xin trở về với Hà Lạc Chúc Thư

Giống Rồng Tiên nào phải đám con hư

Lũ bất hiếu hay đám người vong bản

Di chúc mãi vẫn là con đường sáng

Mong thư xưa soi rạng bước chân nay …

CÓ MỘT GIẤC MƠ
Có một giấc mơ
Có một đợi chờ
Xa xưa thời huyền thoại
Của Mẹ nào buổi khó phải chia con
Rồi tháng ngày bồng trẻ đứng đầu non
Mắt vọng biển luôn mõi mòn bao niên kỷ
Mẹ vẫn mơ, vẫn một lòng chí
Mãi vẫn còn giữ kỹ chúc thư Cha
Bao ngàn năm, bao khó nhọc trôi qua
Giấc mơ mãi vẫn không nhòa trong Mẹ
Một gấc mơ làm nức lòng con trẻ
Con ghi tâm rồi sẽ quyết quay về
Đám theo cha chỉ sống tạm xa quê
Vì nghĩa cả giữ lời thề sử mệnh …
Đám con khổ cho tương lai tươi sáng
Vì Rồng Tiên, vì muôn vạn sinh linh
Vì anh em còn sống ở quê mình
Vì dòng tộc con giữ tình đồng bọc …

4

Sao quên được buổi chia tay Mẹ khóc
“Thôi chia tay con nhớ lấy con nghe”
Rồi từ lúc chia tay chân bước xuống ghe
Con của Mẹ mãi vẫn mơ vẫn mộng
Giờ Trời Tây nơi tạm dung, tạm sống
Con gửi hồn bay “VỀ LỘNG TRỜI XANH” () Và nơi đây vẫn nuôi chí tung hoành Ngồi nghiền ngẫm năm canh chồng sách Ước! (). Tựa đề một nhạc phẩm của NguyênK. Web: NguyenK.com
VĂN HÓA CHI BANG
(Duy ngã Đại Việt Quốc thực vi văn hóa chi bang _ Nguyễn Trãi)
Phải chăng vì tự ái
Giống Rồng tiên nhắc mãi bốn ngàn năm?
Văn hóa chi bang thộc mấy chữ nằm lòng
Chờ có dịp đem khoe cùng thiên hạ?
Đâu là đỉnh cao, đâu là văn hóa
Tính đặc thù khác lạ của ta đâu?
Chữ hữu vô cóp nhặt chú Ba Tàu
Đường tâm đạo thuộc mấy câu anh Bảy
Tính khôn vặt xem ra chừng bén nhạy
Chóp lấy trào lưu, duy vật kém chi ai
Tài bẩm sinh ép cơm hẩm cõng khoai
Tính thủ lợi miệc mài đường máu sắt
Lịch sử sang trang, trào lưu chuyển ngoặc
Xếp hạng đàng sau xa lắc vẫn mơ Hồ
Còn nửa kia vượt biển cả mưu đồ
Hay cũng chỉ chạy theo đô của Mỹ
Cấu cắn nhau dùng toàn chiêu hiểm bí
Chuyện đồng bào, đồng bọc chuyện vu vơ?
Cha mẹ Rồng Tiên hư thức biết đâu giờ
Lối dĩ vãng mập mờ trăng đáy nước nước!
Việt Dịch Vô Ngôn làm sao ta biết được?
Huyền thoại tam sao thất bổn ích ơn gì ?
Hệ số âm dương thứ đó để làm chi ?
Đạo Thường Đạo, khác gì bao “Đạo” khác?
Khoa học đang lên, tôn giáo đang cùn mạt
Câu: “Trí giả bất ngôn” (*) chừng bạn đã quên rồi?
Bẻ cây hòng trời cao chống được đâu

5
Mà đem sách Ước mưu cầu chấn hưng?
Quen nhau khuyên bác: Thôi đừng!
(*): Trí giả bất ngôn, ngôn giả bất trí: Người biêt không nói, nguời nói không biết (Lão Tử)
HUYỀN THOẠI 100 CON
Trăm con nào kể vui đâu
Trăm con chuyện kể nhiệm mầu chứa trong
Tổ Tiên Việt muốn truyền dòng
Đạo Lý Cổ Việt hầu mong giúp đời
Dùng “Rồng” “Tiên” là dụng lời
Tỏ bày hình tượng 0, 1 thay lời hữu ngôn
Biểu tượng đó chỉ Càn (), Khôn (_ ) Và qua biểu tượng chuyển lời bên trong Rằng: Đạo là cái đường vòng Chưng ra Vật Lý chuyển trong đường nầy Bằng hai biểu tượng trên đây Viết ra lý số chưng bày tượng trong Dùng con Lý Số để mong Trình bày Đạo Lý ở trong Đất Trời Dùng lý số, không dùng lời Mà dùng tượng Đất ( _) Trời () chưng ra …
Chính điều nầy mới giúp ta
Bằng mắt thấy Đạo hơn là nghe suông!
Dương, Âm biểu tượng tròn, vuông
Đồ Thư một quyển khơi nguồn Dịch Kinh …
CHÚC THƯ VÔ NGÔN
Hà Đồ 25 chấm trắng + 30 dhấm đen Lạc Thư 25 trắng + 20 đem
(55 + 45 = 100 trứng, 100 con của bọc Âu Cơ).

6
Có một điều rất lạ
Nghe hoang đường hơn cả chuyện hoang đường
Vào thời kỳ trước cả các Hùng Vương
Có hai vị “Quán” suốt dòng Việt sử
Hai Ngài viết DI CHÚC KHÔNG MỘT CHỮ
Đặt tên là Sách Ước với Gậy Thần
Rồi truyền dòng lưu giữ nó trong dân
Bởi sẽ có lúc phải cần đến nó
‘Sách’ gói cả “trăm dòng trong bọc” nọ
Mà dân gian gọi bọc đó: ‘đồng bào’
Sách không lời nhưng ý nghĩa gồm bao
Được dấu kín trong tượng đồ Hà Lạc
Một trăm trứng nở trăm con tản mát
Nửa theo Cha 55 trứng vuông tròn
Mẹ ở nhà nhận lãnh 45 con
Cả trai gái là 100 cô cậu!
Hoàng tử Liêu Lang xem kỳ thư hiểu thấu
Nên đã dùng hai tượng bánh chưng, dầy
Trong cuộc thi Hùng Vương 6 trước đây
Ông đã được chọn truyền ngôi cửu ngũ
Qua hình tượng hai hình nói lên đủ
Tài của Ông và đức độ của Ông
Tài bởi vì Ông chứng tỏ làu thông
Cái di chúc ẩn tàng trong Hà Lạc
Hiểu sách không lời quả Ông uyên bác
Thử nhẩm coi thiên hạ mấy ai?:
Hình Cửu Cung di chúc được an bài
Ở phương Bắc 9 dương cương trấn giữ
Bởi phương nầy muôn đời mang lấy chữ
KHẢM hiểm nguy trong Bát Quái Hậu Thiên
Đây là phương phải đối diện triền miên
Suốt dòng sử là phương THIÊN THỦY TỤNG!
Còn phương Đông 7 tượng dương rõ đúng
Để đối đầu thường trực “đám tinh ngư”
Từ Kinh Dương Vương, Sùng Lãm đến chừ
Biển mãi động do “kình ngư vẫy sóng”
Suốt dòng sử biển Đông là điểm nóng
Phân bố dương như thế quả không sai
7 dương Càn theo hệ số các Ngài
Với 6 nét viết ra là quẻ BỈ

7
Đất phương Nam Dương tận cùng Dương chí
1 Dương Nam ám chỉ đất đắp bồi
Do phù sa tô điểm mũi Cà Mâu
Hình tượng Bác của 1 Dương Dịch Số
Dương tận cùng Tây Nam là sinh lộ
Mà Tây Nam là số 8 Lạc Thư
Học 8 Khiêm để giữ lấy Đạo Người
Sách Cha viết rõ đúng mười như chục!
Lời của Cha là những lời di chúc
Nhằm định phương với ưu khuyết nước nhà
Còn Hà Đồ là do Mẹ viết ra
Viết để tặng “đám theo Cha xuống biển”
Lịch sử nhìn xa là chu kỳ miên viễn
Của thịnh suy như Xuân Hạ Thu Đông
Trên đường đời đầy rẫy những gai chông
Thư của vợ nhằm giúp Chồng định tính:
Dương cương cường dương nhận mang mạng lịnh
Chấp nhận đau thương cho nước mở mang ra
Trên Hà Đồ là con số 13
Là qủe Lữ (101/001) nhằm chỉ ra tính ấy
Mãi chuyện nhỏ quên chuyện to là bậy
Tình quê hương nghĩa đồng bào còn đấy
Số 12 là Tiểu Quá (100/00, biết chăng ?
Xa cách mặt khó khăn ai vẫn đợi
Con 11 viết ra là tiến tới
Tiến từ từ, ngày một tiến dần dần
Gió trên đồi nhè nhẹ thổi lân lân
Như khích lệ bước chân người tiệm tiến (100/001)
Tình núi sông, nghĩa đồng bào trời biển
Trạch Sơn Hàm (110/001) số 14 cảm nhau
Gẫm mà coi tự trước đến ngà sau
Số Hà Lạc vẫn luôn luôn nghiệm ứng:
Dẫu thăng trầm đất nhà Nam vẫn vững
Chân ra đi mà lòng muốn quay về
Hình Mẹ già đứng ngóng đợi trời quê
Bóng vợ trẻ bồng con nơi núi Vọng …
Số Hà Lạc số thay lời cô đọng
Lạc định hình Hà định tính nói trên
Nếu hai hình ta lấy để chồng lên
Sẽ thành lập ba hệ toán 100 trứng:

8
Một, bách phân, mở đầu như ngữ vựng
Muốn tiến lên ta phải vững hệ nầy
Rằng: Cân, đo, đong đếm được nhờ đây
Đây là hệ cả Đông Tây xài nó
Sau hệ nầy ngày nay ta thêm có
Hệ nhị phân còn gọi digital
Thay vì dùng 10 con số viết vô
Chỉ sử dụng con 0 và con 1
Ông Leibniz lấy Dịch làm mối chốt
Từ Âm (_ ) Dương () ông phát kiến chuyển sang Bởi chỉ có Âm Khôn ( ), chỉ có Dương Càn () Dịch viết được ít ra 64 số Ông ngạc nhiên và rồi ông giác ngộ Dùng 1, 0 để lập hệ nhị phân Nhân loại ngày nay được ơn ích vô ngần Ngành tin học ngày hôm nay xài nó Hệ thứ ba có từ thời Dịch có Có từ thời vừa mới có Tiên ( ), Rồng () Nói khác đi là huyền tự Bà ( ) Ông () Đó là hệ của Âm ( ), Dương (_) tương đối
Hệ số nầy quả ít người lĩnh hội
Nên xưa nay ít có kẻ biết dùng
Hay biết là cũng chỉ biết chung chung
Biết rằng Dịch và Dịch là tương đối
Giờ muốn rõ chúng ta làm phép đổi
Lấy thập phân chuyển ra hệ nhị phân
Từ hệ nầy lại chuyển đổi sang dần
Bằng những nét của Âm Dương hệ Dịch
Trong thư ngõ đã có lần giải thích
Muốn am tường xin đọc lại phần trên
100 con viết ra Dịch nói lên
Lẽ Biến Dịch, tức Luật Thường Vũ Trụ
Chỉ 8 số và 8 con là đủ
Vạch hai hình Bát Quái kỳ thư
Từ khai thiên lập địa đến bây chừ
Luật Trời Đất vẫn y như Bát Quái!
Để rõ hơn phần nầy xin xem lại
Bài thơ về Đạo Lý Việt cổ xưa
Nhân tiện đây người viết muốn xin thưa
Rằng Kinh Dịch cũng từ trăm trứng nọ

9
Việc chồng hình tạo ra Rùa Thần đó
Rùa Thần là Rùa di chúc Ông Cha
Nếu rút từ con số của Rùa ra
Ta sẽ có được con đường cứu nước:
Phương Bắc ta từ nhiều ngàn năm trước
Kể từ khi lập quốc đến bây giờ
Vẫn là phương nguy hiểm của kỳ thơ
Bởi mang số 23 Thiên Thủy Tụng (111/010)
Nên xuôi Nam vẫn là đường mãi đúng
Khi quê nhà còn đang độ giá đông
Con 8 Tây Nam vẫn là hướng chim Hồng
Hướng phát triển, hướng hanh thông Nam tộc
Nay đang độ cơn gió Đông thảm khốc
Năm 75 nửa đám phải theo Cha
Trên đồ hình là con số 13
Là số Lữ (101/001), mà chúng ta đã biết
Nửa còn lại chịu vô vàn cay nghiệt
Việc chồng hình chỉ rõ phải làm sao
Dựa vào đâu và lối giải phương nào?
Làm sao để khỏi rơi vào tử lộ?
Trên lưng RÙA sẵn giải bày chữ số
6 Đông Nam Trạch Địa Tụy 110/000 Hợp Quần
(Số Rùa khuyên liên kết với đông lân
Tạo thêm lực mở thêm dần vây cánh…
Con 20 nằm phương Đông sát cạnh
Là tượng hình Lôi Thủy Giải (100/010) giúp ta
Giữ Đạo Khiêm (000/001) là mối chốt giải hòa
Là đường lối của Quốc Gia đại sự …
Li (101) là sáng là con 5 giữa trử
Trong Hà Đồ và trong cả Lạc Thư
Nếu chồng chúng tạo được số 10
Là số Kiển, số phận người dân Việt!
Con số 5 hệ 64 ta viết
Nó thành ra Hỏa Địa Tấn (101/000) tiến lên
Muốn thành công BI, TRÍ, DŨNG chớ quên
Phải sáng suốt mới làm nên đại sự…
Rồi dòng Việt sẽ viết trang kỳ sử
Đưa Đông Tây về chung mối hiệp hòa
Cả loài người cùng hát khúc hoang ca
Mừng huyền thoại thăng hoa thành hiện thực

10
LỐI VÀO THƯỜNG ĐẠO
Bao lần cũng muốn “thôi đừng”
Nhưng sao thấy khó dửng dưng với đời
Xưa Nữ Oa đội đá vá Trời
Thôi thì thôi! Cứ thử chơi một lần
Nói không được? _ Đâu cần phải nói!
ĐẠO THƯỜNG HẰNG thuộc loại vô ngôn
Vì vô nên mới tồn,
Hữu ngôn đâu gói CÀN KHÔN được nào ?!
Vô gói cả trời cao đất thấp
Vô qua bao vùi dập không tan
Vì vô nên vượt thời gian
Nhờ vô nuôi được cả đàn trăm con.
“Vuông thì theo Mẹ lên non
Đường tâm giữ lấy trí tròn theo Cha” () Thời đất không lập ra văn tự Đạo Thường Hằng một chữ cũng không Mà vòng XUÂN HẠ THU ĐÔNG Dẫu xưa nay vẫn một lòng thủy chung Cho hay VÔ thật vô cùng Hiểu vô mới thấy lạ lùng của Vô Lời đóng cột là đồ vực vứt bỏ Hữu xưa nay đâu có trường tồn Vạn kinh điển sách hữu ngôn Ích gì lời thế mà tôn mà thờ ?! Hôm qua đúng bây giờ lại trật Thế nên chi những bậc thượng thừa Nói rồi lại nói rằng chưa “Những điều mạc khải mới vừa lòng ta!” (*)
Rằng học giả chưa là học thiệt
Thế cho nên càng viết càng sai
Thời gian rồi cứ qua hoài
Bây giờ mới thấy rõ tài Ông Cha
Không thèm một chữ viết ra
Chỉ dùng hình, số Ông (_) Bà ( _) Âm Dương
Viết nên tất cả luật Thường
Để cho mọi thứ làm gương soi vào
Mấy lời thơ muốn cao rao
Mong cho con cháu tự hào giòng ta

11
Và mong lập lại an hòa
Dẫu người núi, biển cũng là anh em
Trở về Văn Hóa đồng nguyên
Đưa con người lại một miền Trời xưa
Vô ngôn viết mấy cho vừa
Viết nhiều càng thấy như chưa viết gì
LỐI THƯỜNG mời bạn thử đi!
(): Nhân gỉa nhạo dơn, trí gỉa nhạo thủy (*) Ta nói nước thiên đàng cho các tông đồ
bằng mạc khải và người ngoại Đạo bằng dụ ngôn (Đức Jésus)
SÁCH ƯỚC I
“… Câu trí giả bất ngôn” chừng bạn đã quên rồi?!
Bẻ cây hòng trời cao chống được đâu
Mà đem sách Ước mưu cầu chấn hưng
Quen nhau khuyên bạn thôi đừng”!
Rằng: SÁCH ƯỚC là bộ kinh vô tự
Là chúc thư không chữ truyền dòng
Sách chỉ dùng ký hiệu chứa trong
Là dấu hiệu của Âm (_ ) Dương (_) tương đối
Vì không chữ nên ít người lĩnh hội
Bởi quá xưa nên bít lối dò tìm
Lại lờ mờ tựa thể bức màn đêm
Nên lắm kẻ cho là huyễn thoại
Rằng Sách Ước gồm hai chương, đại khái
Kẻ vụng nầy thuật lại, chép ra đây
Trang sách đầu, sách thể bánh chưng, dầy
Chứa trăm trứng như trăm con đen trắng
Trang hình vuông là do Cha tạo nặn
45 “con” gửi tặng “đám theo Bà”
Trang hình tròn là gửi đám theo Cha
55 “trứng” vốn do Bà tạo tác
Trong thiên hạ được xem là uyên bác
Hiểu sách nầy có lẽ mới có ba:
Một: Tiết Liệu dùng thực phẩm nhắc ta
Hình ý sách được vua Cha chọn tuyển
Người thứ hai dựa vào đây viết quyển
Bốc Dịch xưa còn dương đến hôm nay
Người thứ ba, chắc có lẽ vị nầy

12
Khỏi cần nói thảy đều hay, đều rõ
Đó là Trạng dưới thời Hậu Lê đó
Ông tiên tri là nhờ có Đồ Thư
Loại thứ hai: Sách lưu lại đến chừ
Bằng chữ số rút ra từ lóng trúc
Đó là nét của Âm (_ ) Dương (), liền đứt

Dương nghĩa mang giống đực, giống Càn ()

Chữ viết ra là một nét nằm ngang ()

Còn chữ đứt, giống cái, mang tượng Mẹ

Là tượng hình sinh thực Âm nứt chẻ ( )

Viết rời ra như thể vẽ cái bà …

Nhờ vào đây Kinh Dịch được viết ra

Cùng Bát Quái để lưu truyền hậu thế …

Mang lấy tiếng là đám người hậu duệ

Không lẽ ta lại để cho sách thất truyền?

Biết ai người còn mang máu Rồng Tiên

Mời nghiền ngẫm sách Tiên Hiền: Sách Ước

SÁCH ƯỚC II 1) Sách Ước là sách không lời

Sách là sách cổ từ thời Long Vương

Sách dùng cấu trúc Tam Cương

Sách là sách Việt mở đường vào Nho

2) Sách Ước là sách không lời

Mà dùng biểu tượng Đất ( _), Trời () để thay
Ý tượng được chưng qua đây
Đạo gia đã chọn lối nấy vào Nho
3) “Sách Ước trinh nguyên không một chữ”
Sách không dùng ngôn ngữ đời thường
Mà dùng cấu trúc “Tam Cương”
Chưng ra Đạo Lý Việt Thường Nguyên Nho
SÁCH ƯỚC III
(Võ Văn Kế hỏi)
Sách Ước là sách thế nào?
Xin ông hãy viết đi vào nội dung
Nói sao nghe thấy lung tung
Hạ đây chỉ biết đường cùng lối ra

13
Câu ca để lại rất xa
Từ lâu hạ chẳng biết xa,biết gần
Thái Sơn ngọn núi ân cần
Công cha to tát biết lần nơi đâu?
Mong người giải thích mau mau
Hạ đây nóng ruột nguyện cầu thâu đêm
TRẢ LỜI:
Biết nói sao, nói thế nào
Khi sách thuộc nhánh Đạo cao, Đức dầy
Mà không dùng chữ ở đây
Nhưng bao trùm cả, như vầy nói sao?
Nói nhiều nghe như tào lao
Càng nói càng khó đi vào nội dung
Toàn bộ sách chỉ có dùng
Âm, Dương biểu tượng, tượng trưng Đất Trời
Sách hình thành không bằng lời
Mà bằng biểu tượng Đất (_ ), Trời ()/Càn Khôn Lập môn Lý Số Vô Ngôn Dùng tượng diễn ý, ý trong tượng nầy Thì chừ biết nói sao đây? Chữ là “tạm dụng”, mình thầy mình thôi! Tự đốt đuốt, tự trau dồi “Quan chiêm” sẽ tỏ cao sâu Đạo Trời Sách Ước vốn dĩ không lời Hiểu sách nhờ tượng Đất ( _), Trời () chưng ra
Rồi bỏ tượng để bước qua
Lấy ý vào Đạo là ta đúng đường
Còn nói về núi Thái Sơn
Là nhằm nhắc đến công ơn sinh thành
Can qua Việt Hán phân tranh
Việt thua Hán cướp, Hán giành núi ta!
Chờ ngày nổi trận can qua
Gió Tây lại thổi, thổi qua Chệch Tàu
Ngày Chệch đổ chẳng còn lâu
Người Nam sẽ lại phục hồi Sách Nam


LẠI HỎI VỀ SÁCH ƯỚC IV
(Nguyễn Văn Đức hỏi)

14
Sách Ước, “Ước” nghĩa là sao?
Trang không đọc được để vào làm chi?
Hai trang kia chứa những gì?
Sao sách khó hiểu qúa đi, hở trời?!
TRẢ LỜI:
Sách Ước là sách không lời
Nhưng điều huyền bí tuyệt vời chứa đây
Đạo Trời Đất chứa trong nầy
Cần thiết là thấy, thấy rồi làm chi?…
Chương sách trống cho ta ghi
Sau khi hiểu được những gì chứa trong
Hai trang “đọc” được, hiểu xong
Trang trống ghi “dụng” hầu mong giúp đời
Hai trang kia tuy không lời
Nhưng có Tượng, Số Đất Trời/Âm Dương
Mở ra mối Đạo “Tam Cương”
Và rồi từ đó Đạo Thường chưng ra …
Đây là sách nhánh Đạo gia
Không phải là sách người ta thường dùng
Sách thường, thường viết lung tung
Sách Đạo vẽ tượng dẫn vào cao sâu
Sách Vô Ngôn lắm nhiệm mầu
Cần quan chiêm sách lần hồi nhận ra
Sách viết bằng tượng Ông (_) Bà ( _)
Ai “đọc” được sách nhận ra Đạo Thường!
HÌNH THỨC VÀ NỘI DUNG SÁCH ƯỚC
Sách Ước không là sách thường
Mà có cấu trúc Tam Cương, Ngũ hành
Thưa các chị, cùng các anh
Sách là “huyền sách” của nhành Đạo gia
Toàn bộ sách gồm có 3
2 trang đọc được, nữa là trắng không
Số trang sách không tương đồng
Thập phân hệ số toán số Tây Đông đang xài
Những con số trong sách này
Là con huyền số qua đây ta cần
Chuyển sang hệ số nhị phân
Chưng ra ý nghĩa Tam Can, Ngũ Thường

15
Con 3 ý nhắc Tam Cương
2+3 là ngũ, Ngũ Thường Việt Nho
Việt Nho văn hóa là lò
Mang tượng hình Táo dạy cho người đời:
Táo là Táo ở trên Trời
Mang lấy ý diễn bằng lời vài ba
Tượng số là số 2/3
Hai Ông kẹp giữa một Bà ngồi trong
Ba vị Táo chẳng mặc quần
Để cho “thứ ấy” tồng ngồng lộ ra
Mang tượng hình cái của Bà!
Và đực cương cứng tượng là c… Ông!
Huyền tự gọi là Tiên (_ ), Rồng () Hình, số được dụng là mong dẫn vào Gia Đạo ý cả nghĩa cao Sách Ước dẫn lối đi vào Việt Nho Chừ mới hiểu Hán lắm trò Đăt ra huyễn thoại làm cho mất nguồn Nguồn văn hóa của Nam phương Đặt trên căn bản Tam Cương, Ngũ Hành Thưa các chị, cùng các anh Mình gốc Việt tộc nên rành, cần thông Nền văn hóa giống Tiên Rồng Là nền Văn hóa vốn không dụng lời! Ngũ hành tương sinh TAM CƯƠNG: Tam là ba, cương là dây Là ba hào Dịch qua đây hình thành Bát Quái giúp chị, giúp anh Bước vào Đạo Dịch tinh anh Đất ( _) Trời ()
Lập ra Sách Ước không lời
Mà dòng tộc Việt muôn đời truyền lưu

16
HUYỀN THOẠI:
Chữ “Huyền” là dấu bên trong
Câu chuyện “thoại” để mong dẫn vào
Đạo Việt ý cả nghĩa cao
Gói trong Sách Ước truyền trao cho đời!
NHO HỌC:
Nho học có hai nhánh Nho
Người đời chỉ biết có lò Hán thôi
Nguyên Nho đâu phải vậy đâu
Nguyên Nho Việt tộc khác Tàu rất xa
NGUYÊN NHO HAY VIỆTNHO:
“Thông Thiên, Địa, Nhân viết Nho”
Là nền học thuật làm cho thông rành
Trên Thiên, dưới Địa, giữa anh
Tam Cương Văn Hóa hình thành NGUYÊN NHO!
Nhiều người không hiểu nên cho
Vu vơ, cổ lỗ lắm trò mị dân
Đây là môn toán Nhị Phân
Ý hiểu qua tượng ta cần phải thông
Nhận mình dòng giống Tiên Rồng
Không rõ văn hóa tổ tông mất nguồn!
HÃY BỎ KHỔNG CHỆCH MÀ VỀ VIỆT ĐẠO
Bỏ Khổng Chệch là đúng rồi
Bởi chưng Khổng Chệch của Tàu qúa sai
Thiên, Địa Nhân là Tam Tài
Vua, Cha, Chồng thế, gieo tai họa đầy
Tam Cương đâu phải như vầy?
Ngũ Thường của Khổng cáì nầy cũng sai:
Đạo Thường Hằng là mãi hoài
Vận hành do bởi năm loài khắc sinh
Đạo Đất Trời, đâu bởi mình
Tẩy chay không tẩy mà rinh Chệch vào!
Khổng Chệch đang bị thải đào
Khổng học là cái tào lao cần trừ
Hởi đồng bào! Hởi mọi người!
Ông Bà Đạo Việt hơn mười Khổng kia

17
VIỆT ĐẠO VỚI BIỂU TƯỢNG TIÊN (_ ) RỒNG () Đạt VIỆT ĐẠO, cần bỏ lời Để cho Đời-Đạo đời đời hiệp thông Đạo, Đời như thể Bà ( ), Ông () Như thể tối, sáng kết lồng vào nhau: Có Âm ( ) Dương (), có nhiệm màu Không Dương Âm thì sự đâu có thành? Muốn thưa các chị, các anh, Chút biết về cái Lý nhành CÀN () KHÔN ( ): Đạo Đất Trời vốn Vô Ngôn Ngôn từ chữ nghĩa vô hồn lắm khi! Nhưng không lời lấy chi diễn ý? Còn bám lời cũng chỉ hại ta: Ngôn từ qui ước đặt ra Do người nghĩ, tưởng, đâu là Đạo đâu ? Đạo là đường (nghĩa từ lâu): Đơn giản, chân thật, nhiệm mầu chưng ra Đạo nào do bởi ý ta, Dùng ngôn từ diễn, chỉ là Giáo thôi! Đạo Giáo như thể cặp đôi Nhưng bám vào Giáo lần hồi Đạo xa … ĐẠO tự nó, nó chưng ra Bỏ lời lấy tượng mới là người thông! Việt Đạo tạm dụng Tiên Rồng Là tượng đực (1) cái (0), Bà ( ) Ông () kết cùng Lời dùng diễn ý mông lung Bỏ lời tạm dụng mong cùng hiệp thông Để cùng giảm bớt bất đồng Giữa những giáo lý Tây Đông khó hòa Đạo Dương () Âm ( _), tượng Ông (1) Bà (0)
Của VĂN HÓA VIỆT chưng ra Đạo Thường
Văn hoá khác với văn chương
Chỉ ra biến hóa khôn lường, thần thông! …
NGÔI NHÂN HOÀNG
Khi bạn té hãy chống tay xuống đất
Nén hơi vào làm sức bậc đứng lên
“Jésus-Ma”! Cầu khẩn Đấng Bề Trên
Quyền tín ngưỡng, xin miễn bàn bạn nhỉ!

18
Nhưng trong tôi, tôi luôn luôn vẫn nghĩ
Lời các Ngài: “Thiên Chúa ở trong Ta”
Trí thông minh là sự sáng: NGÔI CHA
(Làm dấu Thánh, tay chỉ đầu ta đấy!)
Ngôi Tình Thương và Thánh Thần ta thấy
Tay chỉ tim, lực dũng, chỉ hai vai …
“Thân xác ta là đền Thánh của Ngài”
Với Nhân Bản cả Đất Trời hội tụ
Với Nhân Bản, nơi trong ta hội đủ:
Cả TRÍ, BI và DŨNG đủ trong ta!
Nói thêm nhiều chỉ tổ sợ bất hòa
Xin thú thật, dụng tâm không truyền giáo
Mà chỉ muốn nói vấn đề cơm áo
Và bất công trong quần thể loài người…
Nhân loại ngày nay qủa thật rõ mười
Về tài trí đang đi hia bảy dặm
Cũng có nghĩa Ngôi CHÚA CHA rất thắm
Nhưng Ngôi CON và lực DŨNG chẳng ra chi
Tình con người thêm ngày một mờ đi
Sức bậc dũng lại còn thêm thảm tệ
Bao niên kỷ vẫn cúi đầu cứ để
Chủ đạo vong thân và lũ ác đè đầu
Hiểu vấn đề ta sẽ hiểu bởi đâu
Những thảm trạng cứ mãi còn, cùng khắp
Nỗi khổ đau ngày lại ngày đầy ắp
Cho mặc dầu bao niên kỷ cầu xin!
Nói thế nầy không có nghĩa chẳng tin…
Nhưng mang nghĩa nên trở về Nhân Bản
Việc của người, người phải lo tính toán
Tính toán trên “Ba Ngôi Chúa Trong Ta”
Nghịch lý Đất Trời, người đứng giữa điều hòa
Phải Sáng Suốt, Từ Bi và Dũng Cảm!
Hởi CON NGƯỜI! Hãy đứng lên, can đảm
Lãnh việc NGƯỜI để giải quyết chuyện người!
Bao ngàn năm v ăn h óa Việt tốt tươi
Việt mang nghĩa là Việt Thường Trăm Việt
VĂN HÓA VIỆT CỔ VỚI BIỂU TƯỢNG TIÊN RỒNG
Văn hóa cổ gọi mời về cổ?
Trở về thời ở lỗ ăn lông?

19
Một lời dứt khoác thưa: Không!
Tiên Rồng chữ cổ, nghĩa không nghĩa nầy!
Chữ Tiên Rồng gọi thay chữ số:
0 , 1 nay, còn cổ: âm (_ ), dương ()

Dẫn vào “Bất Dịch” Đạo Thường

Đạo Bất Dịch nghĩa: Con Đường Không Thay

Triết tự xưa, đời nay không hiểu

Nên bị xem là kiểu chú bùa!

Trẻ xem, trẻ bảo: Chào thua

Đồ nho, hủ lậu, “discours”, làm gì!…

Thôi bỏ qua, xin đi vào thẳng:

Văn hóa nầy tuy chẳng giống ai

Vì chưng chữ nghĩa không xài

Đúng hơn chữ nghĩa thể loài văn chương!

Văn hóa cổ xiển dương “vô tự”

Có nghĩa không dùng chữ, dùng lời

Mà dùng chữ số Đất ( ), Trời ()

Càn (__), Khôn (_ _) sử dụng như “lời vô ngôn”
Lời vô ngôn trong môn Việt Dịch:
“Lời không lời” chủ đích dẫn vào
Tiên Rồng Đạo cả nghĩa cao
Mở trang sách Ước dẫn vào Dịch Kinh…
Nên xin thưa: Đừng khinh, đừng bỏ
Cổ hay kim đâu có nghĩa gì
Chỉ sao phù hợp vị, thì
Thì điều ơn ích lắm khi khác thường…
BÁT QUÁI VÀ ĐẠO LÝ VIỆT CỔ
Tiên Thiên Bát Quái
RẰNG: Bát Quái chỉ là tám số
Nhưng bởi quen theo lối cổ Ông Cha
Rồi thất truyền nên nhuộm vẻ ma tà

20
Nào Càn, Khảm, Tốn, Li, Đoài, Khôn, Cấn, Chấn …
Giờ đề nghị chúng ta nên ghi nhận
Tám từ trên là 8 số Âm Dương
Hệ số nầy khác với hệ thông thường
Không phải dùng cân, đo, đong, đếm
Mà nó dùng để giúp ta chiêm nghiệm
Định luật, qui trình biến dịch Âm Dương
Nói khác đi là mở lối chỉ đường
Cho ta rõ Đạo Thường trong vũ trụ
Chỉ tám con và tám con là đủ
Bởi nếu thêm nó lập lại từ đầu:
Con 9 kia với 1 nọ khác đâu
Nếu dùng hệ digital để giải:
Con số 1, viết nhị phân có phải: (001)
Và con 9 là: không không một (001), phải không?
Nếu đem thay bằng số của Tiên (_ ), Rồng () Với ba nét Âm ( ), Dương () sẽ rõ:
Cấn là 1 hệ Âm Dương viết nó 001
Mang tượng hình dương quan khí đọng cô
Do chuyển từ nguyên khởi khí hư vô
Mà có kẻ gọi là Thái cực

Khảm là 2, gồm 1 liền (), 2 đứt (_ )

Vẽ ra hình, ra tượng của nước âm ( 010)

Khởi từ đây sự vật nẩy mầm

Vì hội đủ bốn điều ắt có

Bốn điều ấy như mọi người đều rõ:

ĐẤT phát sinh như đã nói phần trên

LỬA từ trời, từ lòng đất bốc lên

Và NƯỚC có từ nơi sao Bắc Đẩu

(Giờ nhiều nơi hiện vẫn còn in dấu

Như trên Trăng hay sao Hỏa hôm nay

Bởi chu trình Thái Dương Hệ khi quay

Có một lúc tiến gần sao Bắc Đẩu)

GIÓ do khí từ các vùng chuyển đổi

Nó mang theo những nguyên khí tối cần

Thảy muôn loài, muôn vật phải chịu ân

Bởi sự sống là phải cần khí/gió

Khí là Tốn, là con 3 viết nó (011)

Hai vạch dương () và dưới có một âm ( _)
Hiểu gió thôi là hiểu Tốn còn lầm

21
Nó còn nghĩa mở ra tầm phát triển
Sinh vật phát sinh khởi từ nước/biển
Rồi từ từ lên trên đất, trên rừng
Rồi tiến dần người vượng đứng hai chưn
Như học thuyết của Darwin đề cập
Cho đến khi hệ mặt trời quay tấp
Về phương Nam vũ trụ cận Nam Tào
Quả Đất nầy nhận dương khí của chòm sao
Làm biến đổi DNA trong khỉ
Tất cả đều do chu trình Dịch lý
Chẳng có Ông, chẳng có Đấng nào làm!
Khỉ thành Người nhờ dương khí phương Nam
Làm biến đổi DNA như đã rõ
Trong Bát Quái là thời con 4 đó (100)
Nó nói lần đột biến Tiên Thiên
Là thời kỳ xuất hiện giống Rồng Tiên
Như huyền thoại tổ tiên ta đề cập

Theo Dịch số 1 dương () nằm dưới thấp

Kế liền theo hai vạch đức sắp trên (_ ) Tượng ra hình là Chấn (tiếng gọi tên) Theo nhị tiến hai 0 rồi đến 1 (100) Qua thời gian con người dần đổi lớp Giũ bỏ dần những nét của mang di… Con số 5 có tên gọi là LI (101) LI là sáng, là Văn minh, tiến bộ. Con số 6 hệ âm dương là số (110) Vạch rời trên, dưới có hai vạch liền Tên là Đoài, nghĩa là đẹp như Tiên Là thời điểm người sống trong quần hợp Bởi Âm ( ) Dương () sắp chồng lên 6 lớp


Thành ra con Trạch Địa Tụy: Hợp Quần!
Số 7 Càn (111), tượng dương khí đã gần
Lúc cực điểm sẽ chuyển dần sang Bỉ
Cùng tắt biến, dương cực cao dương hủy
Dương tận cùng Dương lại chuyển sang Âm
Luật Thường Hằng muôn thuở vẫn không lầm
Nó chuyển mãi trong chu trình sinh diệt
Diệt của Dịch không nghĩa là diệt tuyệt
Bởi dầu Dương, Dương vẫn chứa Âm trong
Con 8 là con 1 với ba (1000)

22
Không (0) không nghĩa, không là không có
Nét 1 dương nằm ngoài ba 0 đó
Trỏ cho ta thấy được ý nghĩa nầy
Chút dương còn tồn tại ở nơi đây
Sẽ biến dịch để thành ra 1
Hàng tỉ số lấy 8 con lõi cốt
Qui muôn loài, muôn vật vào trong
Tổ tiên xưa dùng tám số để mong
Truyền di chúc cho cháu con dòng Lạc
Bởi 8 số nên gọi tên là “bát”
Và Quái là tên gọi số Âm Dương
Gọi Tiên Thiên là nhằm nhắc có hai chương
Tiên chương 1 và hậu là chương kế
Cả hai chương như Âm Dương dùng để
Nêu định hình và định tính chứa trong
Luật biến thiên vật chất tựa cái vòng
Hình trôn ốc cổ loa thành xưa cũ
Chỉ tám số và tám con là đủ
Lập hai hình thiết trí kế trên
Hình đầu tiên, Tiên Thiên đó, nói lên
Thật đầy đủ luật biến thiên vật chất
Biến dịch mãi, biến dịch hoài mọi vật
Nhưng biến trong một qui luật Thường Hằng:
Luật đầu tiên từ có trở về không
Rồi lại biến từ không sang đến có
Cứ biến mãi trong chu trình của nó
Như chu trình của Xuân, Hạ, Thu, Đông…
Luật thứ hai là qui luật “tắt thông”
Của mọi vật tới cùng phải biến
Cũng nhờ đóchu trình trên miên viễn
Trên hình đồ là 7 trở về 0
(Nói rằng 0 hay nói 8 cũng tương đồng
Dùng 3 nét nên số không khác mấy)
Luật thứ tư xem nơi hình ta thấy
1 biến từ cái nhỏ ở trong 0
Rồi từ từ dương (__) ngày một chất chồng
Từ con 1 (001) chuyển dần lên tới 7 (111)
Từ một nét dương trên cùng ta thấy
Dương bây giờ là ba nét dương cương
Nhìn vào đây ta thấy được luật Thường

23
Có thể gọi luật nầy là tiệm tiến
Luật thứ tư được gọi là đột biến
Như trứng gà phút chốc nở thành con
Như quả bom bị phát nổ chẳng còn
Mang hình thể thuở ban đầu của nó
Nhìn đồ thấy hai lần luật đó:
3 sang 4 và 7 trở về 0
Luật thứ năm: luật biến bởi chẳng đồng
Do mọi vật chứa Âm Dương khác thể
Như nước lửa trên hai hình không dễ
Tiêu diệt nhau vì đối xứng qua tâm
Đối lực nầy tạo quán tính xoay vòng
Nên khởi động được chu trình biến dịch
Đại khái Tiên thiên gồm năm luật chính
Còn 8 số Âm Dương sắp xếp như trên
Cái hay là có thể nói lên
Rằng mọi vật khởi từ đâu mà có
Rằng loài người và vô vàn vật nọ
Khởi từ đâu và sẽ trở về đâu
Tám số đơn sơ, tám con số nhiệm màu
Thảy muôn vật gói tròn trong Bát quái
Còn hình kia cũng tám con sắp lại
Gọi đồ hình là Bát quái Hậu Thiên
(Bởi chưng vì của dòng giống Rồng Tiên
Nên còn gọi là Việt Thường Bát Quái)
Dù Vũ Trụ có chuyển vần xoay mãi
Dù con Rồng có lúc thịnh lúc suy
Muôn ngàn năm cho dẫu biến động gì
Bắc quả đất vẫn hướng về Bắc Đẩu
Hình nước Việt dẫu bao lần thay đổi
Phía Bắc ta vẫn “cát ít, hung nhiều”
Phía Bắc đồ hình là quẻ Khảm (010 ) được nêu
Ở phía Bắc đồ hình mang ý đó
Và phương Nam như mọi người đã rõ
Mãi là phương phát triển của giống nòi
Hãy lặng thinh ngồi nghiền ngẫm mà coi
Nó vẫn đúng trong tương lai nữa đó
LI (101) sáng,âm thuộc phương Nam hình nọ
Nhằm nêu lên: “Định phận tại Thiên Thư”
Phải xuôi Nam khi đất Bắc bấy chừ

24
Vẫn còn ở trong chu kỳ băng giá
Di chúc giống nòi còn nhiều điều lạ
Nếu hai hình đem chồng sắp lên nhau
(Nhưng ở đây không thể tỏ nhiệm màu
Cho hết thảy mọi người đều biết!)
Và nếu DỊCH giải theo tinh thần Việt
Thì Dịch Kinh là Sách Ước Gậy Thần
Cho Việt ta và hết thảy muôn dân
Được ơn ích rút ra từ “sách” đó
Góp lời quê trong mấy vần thơ ngõ
Mong đồng thanh tương ứng bạn năm châu
Ngày cuối Đông trâu mong được gặp trâu
Cùng trở lại phục hồi VĂN HÓA VIỆT
HUYỀN THOẠI, DỊCH VÀ DI SẢN VIỆT
Hà Đồ Lạc Thư Hình Chiếc Bọc 100
Huyền thoại là những lời kể lại
Mong cháu con phải mãi mãi ghi lòng
Bởi dấu che những bí ẩn bên trong
Phải thành khẩn ta mới mong thấu hiểu
Chữ “Rồng Tiên” chỉ là biểu hiệu
Mà người xưa mượn để chỉ Âm, Dương
“Ông” và “Bà” là hai thể nghịch thường
Nhưng kết chặc cùng chung trong một cặp
Như thể là Âm Dương trong Thái Cực
Rồi trăm dòng từ đó được sinh ra
Thể tựa như hình vẽ của Lạc Hà
Từ Thái Thái Cực nẩy sinh ra trăm trứng
“Trứng” hai hình như Âm Dương phải ứng
“Đông có mầy và Tây lại có tao”

25
Như còn vang lời dạy của ca dao
Và Hà Lạc với lời răn LI, Lí
Bị xâm lăng ngót non mười thế kỷ
Làm thế nào để di chúc cháu con?
Làm thế nào để di chúc mãi còn?
Nếu không gửi ý tryền qua huyền thoại?
Hùng vương 6 muốn truyền di chúc lại
Cho Tiết Liêu dâng hai bánh chưng dầy
Hình Đồ Thư được gợi ý qua đây
Để con cháu nhớ Rùa Thần vật tổ
Là Sách Ứớc không lời xưa cổ
Chấm rỗng, đầy trên mu giáp Rùa Thần
Trăm “trứng” nầy là hệ của thập phân
Đổi sang Dịch là Âm Dương Số Dịch
Leibniz về sau làm điều ơn ích
Dựa vào đây phát kiến digital
Để mở màng cho nhân loại bước vô
Ngưỡng cửa mới của ngành tin học
Vì không lời nên Dịch kinh khó đọc
Bởi cao siêu nên nhiều kẻ tranh giành
Vì quá xưa nên lắm bọn lưu manh
Sửa sách sử để đoạt quyền trước tác
Sự tương đồng sách cổ xưa Hà Lạc
Với bao nhiêu huyền thoại của nước nhà
Mấy điều nầy cũng đủ để nói ra
Nguồn cội của Đạo Ông Bà Đạo Dịch!
Dẫu có kẻ cho mị ma đả kích
Cổ hũ rồi còn ơn ích gì đây ?
Bảo Tiết Liêu mượn ý bánh chưng dầy
Để tỏ rõ rằng đủ tài trị nước ?
Hùng Vương 6 qua đây đã chọn được
Người hiền tài để thay thế ngôi vua ?
Lục lại chuyện xưa tôi muốn phân bua
Rằng Sách Ước là Dịch kinh dòng giống Việt
Hãy nuôi lấy một tinh thần bất diệt
Hãy tiến lên như quẻ TẤN khuyên ta
Hãy hổ tương như LI, LÍ, Ông Bà
Đừng để mất di sản nhà truyền lại:
Hoàng Trường Sa phải ghi lòng nhớ mãi
Bất động sản nầy là khẳng định của ta

26
Còn Dịch Kinh là Sách Ước Ông Bà
Là di sản tinh thần dòng Việt tộc!
VỀ ĐẠO VIỆT: HUYỀN THOẠI VÀ HUYỀN TÍCH VIỆT
Vấn đề ĐẠO, đúng ra là gai gốc
Không thể dùng lời để đọc, để nghe!
ĐẠO là ĐƯỜNG thì nó phải chưng, khoe
Cái chính nó, nó mới là cái ĐẠO!
Nói về “NÓ”, mới chỉ là cái GIÁO!
GIÁO dùng lời nói về ĐẠO mà thôi!
Cái điều nầy, quả thật, chẳng nơi đâu
Có văn hóa không dùng lời, diễn ý!
Về chuyệc nầy, ở đây. xin đề nghị
Ta nên xem huyền thoại như lời truyền
Bằng tượng hình, tượng ý chứa trong “huyền”
Để hiểu ĐẠO, hiểu xuyên qua các tượng!
Nói Rồng Tiên không nhằm vào “tự sướng”!
Mà là nhằm chưng ra tượng Âm (_ ), Dương () Một nòng mềm (0), và một nọc (1) Dương cương Rồi kết cặp tạo tượng hình Thái Cực (1) … VàThái Cực tựa như tế bào gốc Nó trực phân rồi nẩy lộc, sinh chồi Rồng và Tiên huyền tự khác chi đâu Đực (1) và cái (0), kết lại rồi sinh sản! Một cặp nầy xem như là căn bản Của Càn Trời () và Khôn Đất ( ) khác chi? Cha/Rồng,/Trời (); Mẹ/Tiên/Đất ( ), tượng ni Là hai tượng được dùng ghi quái Dịch! Rồng () và Tiên ( ) chính là hai thể nghịch Dùng tượng nầy dựng VIỆT DỊCH VÔ NGÔN Không dụng lời mà dụng tượng Càn () Khôn ( ) Giúp ta thấy, thấy CON ĐƯỜNG BIẾN DỊCH! Số 100 trứng, qua đây, xin giải thích Trứng ở đây là trứng của “Ông” (), “Bà” ( _)
Là âm dương mà huyền thoại chỉ ra
50 trắng, nửa kia là đen/tối …
Như Hà Đồ chồng Lạc Thư lên đội
Thành ra hình tụ hội “một trăm con”!
Giống hình Rùa kết hợp bởi vuông tròn
Huyền văn Việt gọi trăm con cùng bọc!

27
Chẳng đặng đừng phải dùng lời mời đọc
Điều cần là “cóc” phải nhớ lời chi!
Lời tạm dùng, tạm mượn phải quên đi
Điều cần thiết là cần ghi nhớ tượng
“Rồng” và “Tiên” là ngôn từ tạm mượn
Số100 gợi ra tượng Rồng/Lôi (100/100)
VĂN HÓA VÔ NGÔN đã giải rõ rồi
Một trăm đó chính là con huyền số!
Số 50 với Khôn (_ ), Càn () hiển lộ Của tượng hình THỦY TRẠCH TIẾT: Gôm vào! Nước dâng tràn đành phải chọn chỗ cao “Huyền văn” Việt nói: “50 con theo Mẹ”! Còn 50 với trắng đen phân rẽ Chính nửa nầy là “năm chục theo Cha” Nói khác đi là đường trí bung ra 50 ấy, lý số là con LỮ (101/001) Hỏa là lửa, đốt quê nên bỏ xứ Như 75 một nửa bỏ quê đi Huyền thoại Tiên Rồng 100 trứng khác chi Là lối dẫn chúng ta vào VIỆT DỊCH?! CHÚC THƯ VÔ NGÔN TRỊ NƯỚC Đến hôm nay nhủ nhau cảnh giác Thảm thương cho các bác bên nhà! Bởi chưng bỏ ĐẠO Ông () Bà ( _)
Mà đem rác rưới người ta vào thờ !
Thứ giáo thuyết bá vơ ‘Ngoại ĐẠO’
Từ Tây, Tàu lếu láo nhập vô
Cả Tự Đức đến ông Hồ
Rao giảng chệch hướng làm khô ĐẠO nhà …
Vì ‘khô ĐẠO’ nên ta không thấy
Lời vô ngôn qua đấy Ông Bà
Truyền dòng cách đặt quả, hoa
Đâu là bài vị, đâu là nước, hương …
Theo đó đặt: Bắc phương bài vị
Phía Nam là vị trí hương đăng
Mang ý nghĩa dạy ta rằng
THỦY nằm phương Bắc thường hằng khắc LI!
Cứ quan chiêm ta thì sẽ thấy
Khắp Đông Tây luật ấy vẫn y

28
Cổ kim cũng chẳng khác gì
Xung đột Nam Bắc: Bắc thì khắc Nam!
Có mâu thuẫn mới làm tiến bộ
Có phong sương, có khổ mới tài
Bao năm nếm mật nằm gai
Ngọc kia có dũa, có mài mới nên …
Muốn hóa giải đừng quên hoa, quả
Đặt đông tây, hữu tả bàn thờ
Hiểu thời vị, kiên trì chờ
Thời KIM khắc MỘC bấy giờ hãy hay …
Trông thời cuộc hôm nay thì rõ
Tàu phương Đông, Mỹ nọ phương Tây
Thế trận đã được sắp bày
Lãnh đạo phải rõ luật nầy mà theo …
Lãnh đạo trật làm nghèo đất nước
Lãnh đạo sai là bước thụt lùi
Đúng đường dân nước yên vui
Đúng Đạo mới biết đẩy lùi Bắc phương!
Hiểu được Đạo, Đồng Tương cùng hợp
Thông Ông (_) Bà ( _), Sách Ước cùng thông
Rạng danh dòng giống Tiên Rồng
Văn Hóa Vô Tự rõ không hão huyền!
Bốn ngàn năm Rồng Tiên Văn Hóa
Chỉ nghe thôi thật quả lạ tai
Vì chưng chữ nghĩa không xài
Mà được xây dựng bằng hai ‘ĐẠO TỪ’!
San Jose, ngày 21 tháng 7 năm 20
NGŨ HÀNH TƯƠNG KHẮC VỚI LỜI ĐỒNG TƯƠNG
Thuỷ khắc Hoả, Mộc bị Kim
Lãnh đạo cần biết nghiệm chiêm Ngũ hành
Đám phương Bắc, lũ lưu manh
Phương Tây sẽ xé tan tành bắc Phương
Thuỷ khắc Hỏa Mộc Khắc Kim
Lãnh đạo cần biết để tìm lốí ra
Rành Ngũ Thường biết đâu là
Con đừờng cưú nước cứu nhà Việt Nam
Thuỷ khắc Hoả, Mộc bị Kim
Đảng nô cần biết búa liềm sắp tiêu
Phải thức tỉnh chớ có liều

29
Lãnh đạo cần rõ những điều Thiên Thư
Thủy khắc Hoả, Mộc bị Kim
Lãnh Đạo cần biết để tìm lối ra
Trên bàn thờ sắp quả, hoa
Nghiệm đi sẽ thấy Ông Bà Chúc Thư!
Thuỷ khắc Hoả, Bắc khắc Nam
Nổi trôi vận nước đành cam tách rời
Đông Tây hai nửa, chơi vơi
Theo Cha theo Mẹ nhớ lời “Đồng Tương”!
TÔI MUỐN
Tôi muốn anh em mình cùng hảnh diện
Đạo Tiên Rồng và nguồn gốc giống nòi ta
Rồng và Tiên kết nên cặp Ông Bà
Hệt như thể lưỡng nghi trong Thái Cực
Rồi Ông () Bà (_ ) Âm Dương làm thiên chức Trăm trứng vuông tron, trai gái được sinh ra Sách giống nòi ghi rõ số Lạc Hà Nửa Mẹ ở, nửa theo Cha xuống biển Nhưng phải ứng cho nhau khi nguy biến Nghĩa đồng bào núi, biển hổ tương nhau Để Rồng Tiên từ trước đến ngàn sau Mãi tồn tại cùng đất trời tiếp diễn Tôi muôn anh em chúng ta cùng nhận diện Bát quái, Lạc Hà sách quí của Ông Cha Và Dịch Kinh cũng từ đó mà ra Các Ngài muốn lưu truyền cho con cháu Sách viêt gì được xem quí báu? Mà Ông Cha lại trang trọng đem thờ ? Vạch liền (), rời ( _) nào mang nghĩa vu vơ?
Chấm đen trắng mang ý gì qua đó?
Tôi muốn anh em chúng ta làm sáng tỏ
Cùng lập bàn thờ khôi phục Đạo Rồng Tiên
Thường giáo vô ngôn, nên Thường Giáo vô biên
Gọp kim cổ và gói muôn loài muôn sự
Bát nước, lư hương chúng ta cùng nguyện giữ
Cho giống nòi, cho đất nước mãi còn
Cho đời nầy và mai hậu cháu con
Biết sách tổ và biết dùng sách tổ
Trị quốc, tề gia đến triết, y, lý số …

30
Tất cả gói tròn trong Đạo Dịch Âm Dương!
Tiến hóa đời này và Mỹ quốc phú cường
Cũng xuất khởi từ 100 con Hà Lạc
Bởi u tối cháu con làm mất mát
Tài sản giống nòi, di chúc Ông Cha
Nhiễm thói vong thân quên mất Phật nhà
Chạy đôn đáo tìm Thích Ca thờ lạy!
Tôi muốn anh em, chúng ta tìm nơi ấy
Trên bàn thờ, nơi lễ vật cúng dâng
Nghi thức dân gian cúng lạy mấy lần
Qua biểu tượng hòng mong tìm đạt ý
Tôi muốn chúng ta lòng nuôi ý chí
Khôi phục nhà Nam làm rỡ giống nòi ta
Đưa Đông Tây về chung mối hiệp hòa
Và Tôn giáo cùng qui về một mối
Tôi muốn anh em cùng tôi cùng tiếp nối
Sử mệnh kiêu hùng dòng tộc giống nhà Nam
Chấp nhận phân qua, bền ý chí nhận làm
Đợt tổng hợp lần sau hơn lần trước
Tam giáo đồng nguyên tổ tiên ta làm được
Trịnh Nguyễn phân tranh mở thêm rộng cõi bờ
Tranh chấp Bắc Nam làm đất nước xác xơ
Nhưng đã giúp địa cầu qua hiểm họa …
Nay theo Cha hàng triệu con tất tả
Phải chăng vì sử mệnh đám Rồng Tiên
Tôi muốn anh em cùng im lặng ngẫm nghiền
Cùng trở lại mối giềng dòng Việt tộc
PHIÊN TÒA CHÚA XỬ
H1: Cây sự Sống H2: Lấy lá cây che của kín
Không đóng của bởi lều chòi không cửa

31
Tôi vào mùng và tôi đến cùng Ngài
Khi bắt đầu đồng hồ chỉ mười hai
Bên ngoài tối tựa như đêm trừ tịch
Để tĩnh tâm ngồi kiết già tôi hít
Theo dưỡng sinh Bác Sĩ Hưởng chỉ tôi
Đúng hay sai tôi chẳng biết trong đầu
Nhưng tôi tỉnh bởi đang ngồi chưa ngủ
Trong âm thầm, trong tôi, tôi tự nhủ
Đây là đâu? Ta đang ở nơi đâu?
Triều đình nào mà văn võ đang chầu?
À! Phiên xử! Mà xử ai đó nhỉ?!
Bởi tò mò, tôi bước vào xem kỹ
Mới hay là Thượng Đế xử Ông Bà
Một Adong và một nữa Eva
Hai vị tổ của loài người ta đấy!
Tai tôi nghe và mắt tôi rõ thấy
Tôi xin thề: Tôi chẳng dám chứng gian!
Khiếu nại gì đây? _ Chúa Trời giận đập bàn:
Bay đã nhận, bay đã ăn trái cấm
Và xấu hổ bay chui vào bụi rậm
Lấy lá cây che của kín tụi bay
Đã xử rồi sao hai đứa hôm nay
Còn oan ức cái nỗi gì nữa hã ?
Lạy Chúa Trời thương chúng con oan quá
Xưa chúng con đã nhận tội vì ngu
Thiện ác nuốt vào đầu óc rối bù
Biết chi nữa mà hai con không nhận?!
Rời Địa Đàng mấy triệu năm lận đận
Đói khổ gian nan nhiều kiếp dạy nên khôn
Ngài nghĩ lại coi lỗi nào phải nơi con
Ngài lấy đất nặn con rồi nặn vợ …
Ngài lập địa đàng rồi nhất con trong nớ
Ngài trồng cây, thiệc ác cũng Ngài trồng
Không áo, không quần, hai đứa lớn tồng ngồng
Mà lại Ngài còn sai loài rắn …
Mà rắn từ đâu ? _ Rắn cũng do Ngài nặn!
Tất cả bởi Ngai nào phải lỗi con đâu?
Một chuyện nhỏ nhoi như sợi tóc rụng từ đầu
Cũng trong ý của Ngài tất cả …
Còn tính người với Ngài đâu có lạ ?

32
Tính tụi con Ngài biết tự ngàn xưa !
Bởi bay ngu, bay nhận tội cho chừa!
Không phải tội mà cái ngu là tội!
Thôi từ nay cho hồn bay được rỗi
Đúng ra là tội phân biệt âm (_ ) dương ()

Dẫu Đông Tây tuy hai hướng một đường

Thiên Chúa Giáo với Việt Giáo kia là Một

Bốn hướng, tám phương, ba cõi cũng là Ta

Phiên xủ xong cũng là lúc nghe gà

Của lối xóm vừa cất lên tiếng gáy

CHÙM THƠ QUANH VIỆT VIỆT LÀ GÌ?

ĐÂU LÀ MINH TRIẾT VIỆT

Chữ Việt vừa nghĩa Việt Nam

Chữ Việt vừa nghĩa học hàm siêu nhân:

Người cùng Trời Đất hợp quần

Trong thể văn hóa Ba Chân: Tam Tài

VIỆT SẼ VỀ ĐÂU KHI KHÔNG CÒN SỬ VIỆT VÀ VĂN HÓA VIỆT

Việt nầy sẽ sớm tiêu vong

Sẽ bị đồng hóa khó mong ngóc đầu

Khi theo ngụy sử Chệch Tàu

Khi bỏ văn hóa cao sâu Việt mình

MẤT VIỆT SỬ, MẤT VĂN HÓA VIỆT, MẤT CĂN CƯỚC VIỆT!

Không còn sử, không còn căn cước

Việt tiêu vong không trước thì sau

Hiểm họa thúc đẩy càng mau

Khi chọn văn hóa bỏ đầu, lấy đuôi!

VĂN HÓA VÔ NGÔN VIỆT TỘC

Văn hóa Cổ không dụng lời

Mà dùng triết tự Đất ( _) Trời () chưng ra
Xưa nay ngỡ của Hán Hoa
Truy nguyên mới rõ Đạo nhà Nam phương !
SỬ MỆNH VIỆT
Như là sử mệnh chia con

33
Năm mươi lên núi, nửa còn theo Cha
Chia con trăm trứng Ông Bà
Rồi gôm về chốn gọi là Đồng Tương
Huyền ngôn dẫn lối mở đường
Bung ra nhằm mở biên cương toàn cầu
Muôn loài nào khác chi đâu
Cũng cùng một thể, một “bầu trăm con”
Âm Dương trăm trứng vuông tròn
Tuy rằng khác giống, vẫn con Đất (_ ) Trời (_)!
Ngôn bất ngôn chuyển mấy lời
Gửi cho con Việt muôn đời ngàn sau!
HYỀN SỐ HÀ LẠC
Cửu ngũ là huyền số chín năm (9×5)
Cửu cung hàm chứa ý sâu đằm
Bốn năm bằng chín (4+5=9) Cha trao gửi
Ngũ ngũ rõ mười Mẹ gói thăm (5+5=10)
Hà Lạc xưa còn l ưu vọng tiếng
Rồng Tiên nay đã phải vô tăm?
Gậy thần đốt trúc bao huyền nhiệm
Ướm hỏi ai người hiểu bọc trăm?
DẤU ẤN VIỆT NHO
Tổ Tiên chọn số bốn ngàn năm
Tải Đạo vô ngôn rõ thắm đằm
Sông núi tách hai: Hai nửa cách
Đồng tương gôm một: Một lần thăm
Lần theo ngõ trúc, im tìm dấu
Nương đến thiền môn, lặng thấy tăm
Hà Lạc gói tròn trong chiếc bọc
Vuông tròn, đen trắng thảy là trăm
HUYỀN THOẠI TIÊN RỒNG THÁCH GIẢI
Nghe tiếng đồn anh người hay chữ
Nếu như anh giải thử nghe thông
Thì em sẽ lấy làm chồng
Diêu bông anh khỏi bỏ công đi tìm!
Xin hỏi anh: loài chim loài rắn
Rắn phủ chim sao đặng sinh con ?
“Trắng đen trăm trứng vuông tròn

34
Năm mươi theo Mẹ, nữa còn theo Cha”
Thì phải hiểu nghĩa là sao nhỉ ?
Và năm mươi (50) cái lý làm sao ?
Tại sao mình gọi “đồng bào” ?
Còn Rồng Tiên nghĩa thế nào hả anh ?
Em thưc tình công danh không chuộng
Cửa nhà to, ao ruộng cũng không
Chỉ mong sao được tấm chồng
Văn hóa Tiên Tổ người không hững hờ …
ĐÁP LỜI THÁCH GIẢI
Vài vần thơ, đáp thơ em hỏi
Cho dẫu anh vụng nói, vụng làm
Hừng hờ không nỡ lòng cam
Mượn vần ‘thơ cóc’ mạn đàm cùng nhau:
Rằng: Khá khen em làu huyền thoại
Nhưng “Rắn”, “Chim”, nào phải rắn chim!
“Ngôn bất ngôn” nghĩa cần tìm
Con đường Lý Đạo ẩn chìm bên trong …
Chuyện “Rắn, Chim” Tiên Long Hồng Lạc
Là để mong diễn đạt Đạo Thường
Không nằm trong loại văn chương
Chữ sao nghĩa vậy, thói thường, chung chung …
Nói: “Rắn Chim không cùng một thể”:
Một chỉ Dương, một để chỉ Âm
Âm Dương khác thể là mầm
Cho hết mọi thứ, trung tâm mọi loài …
Rắn là Rồng: chỉ nòi Càn (), mạnh Tiên là chim: chỉ tánh Khôn ( ), nhu Càn Khôn giao cấu, sớt bù “Cái con tùng dí”, lõm u giao hòa … Để từ đó sinh ra trăm thứ Số một trăm 100 số-chữ: Lôi/Rồng Một trăm con của Bà Ông Từ hình Hà Lạc kết lồng vào nhau Trăm đen trắng mở đầu Lý Số Để từ đây sách cổ Dịch Kinh Trinh nguyên Sách Ước kết tinh Không bằng ngôn ngữ mà hình Rồng () Tiên (0) ( _)
Lời huyền thoại lưu truyền dòng tộc

35
Rằng: Trăm con từ gốc Âm Dương
Rồi một trăm rẽ đôi đường:
Nửa Âm xuống biển, nửa Dương lên rừng
Hai nửa nầy xin đừng có nghĩ
Là năm mươi trong lý thập phân
Dùng trong: đong, đếm, đo, cân…
Mà là lý số mới lần nghĩa ra
Số năm mươi nếu ta đem đổi
Dùng 1, 0 theo lối nhị phân
Để rồi, rồi đổi chuyển dần
Sang hệ lý số ta cần xét tra
Và như thế sẽ là con TIẾT
Đoài (Chằm) trong, ngoài Thủy bọc bao
Tượng hình Thủy Trạch dâng trào
Nên TIẾT mang nghĩa núi cao gôm về
Còn năm mươi rời quê ra biển
Có nghĩa là hướng tiến ngược chiều
Của năm mươi TIẾT vừa nêu
Mang hình lửa đốt tiêu điều quê hương
Hỏa Sơn Lử là đường trí giả
Năm mươi con tất tả theo Cha
Và năm mươi nữa ở nhà
Đi theo đường Mẹ gọi là “nhạo sơn”
Dẫu hai nửa, dẫu nhân, dẫu trí
Cũng cùng chung một lý Âm Dương
Nên tuy núi biển đôi đường
Nhưng trong tự tánh Đồng Tương cùng tìm
Và trăm trứng của “chim”, của “rắn”
Dẫu gừng cay, muối mặn không xa
Trăm con cùng bọc Mẹ Cha
“Cùng bọc” Hán Việt dịch ra “đồng bào”
Giờ Rồng Tiên nghĩa sao đã tỏ
Ta giải xong em có giữ lời ?
Chuyện “tòn tem” hãy thuận chơi
“Gậy mo”, “tùng dí” dạy đời truyền sinh?…
PS:
Xin chớ vội phê bình: chuyện tục
Xin đừng khinh di chúc Ông Cha
Dịch Kinh Văn Hóa Tiên gia

36
Chỉ dùng triết tự Ông (), Bà ( ) viết nên Xin Nam tộc chớ quên điều đó Bởi Bắc phương chúng nó chỉ mong Mình quên Văn Hóa Tiên ( ) Rồng ()
Để chúng dễ đặt ách tròng dịch nô
Xin hết thảy phường, đồ vong quốc
Xin nhắn cùng đấng, bậc Tây thông
Và xin nói với nô hồng
Sớm về nguồn cội, kẻo không: muộn rồi!
NIỀM TIN VIỆT GIÁO
Chúng ta hãy cùng nhau suy nghĩ lại
Suy vi nầy nay bởi tại vì đâu?
Bởi Pháp, Nhật, Nga, Mỹ hay bởi Tàu?
Hay do bởi tinh thần ta vọng ngoại?
Trông ra kìa giống dòng dân Do Thái
Nhiều ngàn năm vẫn dựng lại quê hương
Bởi do đâu? Phải chăng họ đúng đường?
Dẫu lưu lạc vẫn bảo toàn Do Thái Giáo!
Nhật hùng cường hẳn là nhờ Thần Đạo
Hùng khí Summerai khiến cho Nhật quật cường
Cờ Mặt trời làm nể mặt Tây phương
Ý thức dân tộc khiến dân giàu, nước mạnh
Và Mỹ nay khó nước nào bì sánh
Nhờ tinh thần “Một tấm thảm muôn màu”
Cho tự do, cho bình đẳng như nhau
Tạo điều kiện các giống dân phát triển
Lật lại sử Nam vào những khi nguy biến
Đánh Nguyên Mông, đánh Mãn, đánh Minh
Thắng nhờ đâu?
Nào ai khác ngoài mình!
Kỳ tích ấy mấy tộc dân làm được?!
Không tự tôn, cũng đừng tự ti, nhu nhược
Mặc cảm giống nòi, xem nhẹ tổ tiên!
Thường giáo vô ngôn, nhưng Thường giáo vô biên
Mà Giáo Chủ là tổ tiên Hồng Lạc!
“Giáo chủ cặp” ôi diệu vi, uyên bác
“Trăm trứng trăm con” là vô tự chân kinh!
Hình Đồ Thư là sách quí của dân mình
Cùng từ đó mà Dịch Kinh mới có!
Thuở dân còn ít và nước còn gôm nhỏ

37
Vẫn bao lần “châu chấu nọ đá xe”
Không tự tôn nhưng nào phải tự khoe
Để ru ngủ với những điều phịa đặt?!
Những kỳ tích như ánh dương vằng vặt
Dẫu gian manh đốt sách giết học trò
Dẫu bao lần sửa sử viết quanh co
Kẻ thù vẫn không thể nào xóa được
“Ôn cố, tri tân” mong cùng nhau tiếp bước
Cho giống nòi, cho nhân loại tiến lên
Ta hãy moi tìm trong quá khứ lãng quên
Cái gì đó tạo nên kỳ tích đó?
Nay nước nhà Cộng quân đang nhuộm đỏ
Dựa vào đâu để xây dựng lại quê hương
Mặc ai cho, ai bảo chuyện hoang đường
Riêng ta vẫn vững tin vào Việt giáo!
Ta đeo đuổi và cao rao Việt Đạo
Tuy không lời mà tạo lắm kỳ công
Thề quyết tâm học tập ở Cha Ông
Nguyện giữ lấy Đạo Tiên Rồng: Việt Đạo!
ĐẠO ÔNG BÀ
Ai sao mặc ĐẠO ÔNG BÀ ta giữ
Và tự hào huyền sử giống nòi ta
Buổi vàng thau, thời lẫn lộn chánh tà
Ta giữ ĐẠO là giữ ta không mất gốc
Chim có tổ, nước có nguồn, người có tộc
Tộc nhà Nam là giòng tộc Rồng Tiên
Mẹ Âu Cơ là tiên nữ diệu hiền
Cha Sùng Lãm vốn tự trời nhập thế
Thuở khai quốc Kinh Dương Vương đại đế
Cõi bờ ta là vùng đất thênh thang
Đầu gối nằm châu thổ Dương Tử Giang
Chân vươn tới chân trời Nam ấm áp
Đứng đầu gió qua bao cơn bão táp
Giống Rồng Tiên vẫn tồn tại hiên ngang
Giòng hùng anh không quỵ lụy qui hàng
“Thà làm quỉ không làm vương đất Bắc”
Tàu chưa yên, tiếp đến Tây làm giặc
Toan đập lư hương, bát nước ta thờ
Lòng gian tà với ngụy thuyết vu vơ

38
Sao sánh được gòng nhất nguyên Việt Giáo ?
Ngã một phía khuyết cùn sao gọi Đạo
Lòng gian tà, sắt máu bao rằng nhân ?
“Sống làm người không giữ lấy Tứ Ân
Thì đâu khác loài cỏ cây, cầm thú”()?! Ai sao mặc, Đạo Ông Bà ta giữ Và tự hào huyền sử giống nòi ta Vì nhân quần chịu phân tán, can qua “Ta chịu khổ là khổ cho nhân lọai” ()
Hễ ngày nào thế gian còn nghèo đói
Còn ngông cuồng, còn kỳ thị Đông Tây
Đám theo Cha còn phải chịu đọa đày
Vì sử mệnh dựng xây nền hợp nhất!
Người anh em nửa quê nhà bám đất
Có nghĩa là theo Mẹ chọn đường nhân
Tình như tiên ôi Mẹ đẹp vô ngần
Và cao cả đám theo Cha trí dũng!


Ta hòa mình vào lớp lớp trước sau
Bước nối bước, bước trên đường Đạo Tổ

39
Làm được thế mới là “Ta có Đạo”!
TRỞ LẠI ĐẠO
Trở lại Đạo là con đường hợp nhất
Tự dẫn vào đường tĩnh lặng chân vô
“Sắc tức thị không” ôi cao diệu hình đồ
Bởi không có nên cái gì cũng có
Trở lạ Đạo con đường đầy gian khó
Đường thắng mình, đường về với trong ta

Thuở khai sơ Ông Bà ăn phải tội
Là ông Bà kỳ thị nhập vào tâm
Ra địa đàng vẫn không rõ lỗi lầm
Nên con cháu muôn đời sau phải khổ
Cũng kỳ thị, chấp nê nào khác tổ
Ta vẫn làm, vẫn “ăn” vậy, khác chi
Tội tổ tông chừ đã rõ tội gì
Xin hãy nhận Việt giáo truyền tâm ấn
Trở lại Đạo là trở về quẻ Cấn
Là định tâm không kỳ thị ta, người
Đạo nhà Nam là văn hóa tốt tươi
Dẫu trăm trứng cũng chung cùng một bọc
TRở lại Đạo là con đường gai gốc
Đường thắng mình đường về với trong ta
Là con đường về với Đạo Ông Bà
Lưỡng nghi nghịch hóa sinh trong Thái Cực
ĐẠO ÔNG BÀ VÀ SỬ MỆNH VIỆT
Từ ban sơ Ông Bà ta có có Đạo
Đạo Ông Bà với Dịch giáo Âm Dương
Quan hệ người trên nền tảng tình thương

40
Kiến tạo quốc bằng con đường trí dũng
Qua huyền thoại, qua lễ nghi lạy cúng
Qua ca dao, qua phong tục lưu truyền
Trong dân gian đều khắp cả ba miền
Nhằm nhắc nhở cháu con “Trở lại Đạo”!
Về với Dịch là trở về chính giáo
Theo âm dương là trở lại Đạo Ông () Bà (_ ) Từ vi mô đến vũ trụ bao la Có gì thoát khỏi ra Đạo Dịch? Lần theo Dịch sẽ mang về ơn ích Lấy Ông Bà để qui tụ muôn dân Bao ngàn năm thêm rẽ nhánh qua phân Nay đến lúc quay về chung mối Đạo Ngã một phía là con đường dị giáo Tu Âm Dương là kiến tạo con người Hòa hợp Âm Dương là đường lối tốt tươi Thấy khác biệt ta để rồi hóa giải Âm ( ) với Dương () sẽ cùng nhau tồn tại
Có Âm Dương nhân loại mới mãi còn
Sách Lạc Hà di chúc lại cháu con
Mối Đạo cũ nhưng mãi còn rất mới
Là SÁCH ƯỚC mà muôn người mong đợi
Là gậy thần gúp nhân loại đi lên
Đạo Ông Bà lâu quá bị lãng quên
Giờ đến lúc cháu con dương xiển lại
Tâm thức Việt đang đơm bông kết trái
Đem Rồng Tiên để viết lại sách kinh
Cho vinh quang về lại với dân mình
Cho nhân loại bước vào niên kỷ mới
ÔNG THẦN TRONG VĂN HOÁ VIỆT
(THẦN: Ông Trời, Chúa, Thượng Đế …)
Thần là qui luật Thiên Nhiên
Phổ cập trên vật: mọi miền, khắp nơi…
Thần thông qui luật Đất (
) Trời () Trước sau như nhất, muôn đời y chang! Nói vầy lắm kẻ hoang mang Duy Thần, Duy Vật đôi đàng, tin đâu? Thưa: Đơn duy là trật rồi: Càn () Khôn ( _), Trời Đất cặp đôi không lìa!

41
Đơn duy mang tính cắt, chia
Quan, chiêm sẽ tỏ hơn bia miệng đời!
Tôn giáo sử dụng lắm lời
Mê vào tôn giáo: Đạo, Đời càng xa!
Hãy “nhìn gần”, hãy “nhìn xa”
Quan chiêm đi! “Thần” hiện ra, thấy liền:
Nhìn dây, cây nơi hiên nhà, đấy:
Thì ngộ ra liền thấy Thần đâu:
Thần nào vặn cổ, bẻ đầu
Khiến cho cây, cỏ, mầm, chồi hướng dương ?!
Hay là do bởi luật Thường
Âm Dương bất trắc khôn lường, tạo ra?
Thế thì Thần ở trong Ta
Và trong muôn vật, Thần là tự thân!
Như cây “trở mặt” chuyển vần
Sáng Đông, chiều lại chuyển dần sang Tây!
Âm, Dương “bất trắc” ở đây
Thần tàng trong vật, luật nầy Luât Thiên!
Thần nầy là thần Tự Nhiên
Chứa trong sự vật, chẳng riêng Giáo nào!
LÀM VĂN HÓA
(Hay Trở Về Chủ Đạo Văn Hóa Việt)
Làm văn hóa là duy trì kiên nhẫn
Nuôi chí bền dầu tận mãi ngàn sau
Vẫn một lòng, một ý chí sắc sâu
Cho dân tộc vững tin vào Việt Đạo
Làm Văn hóa là duy trì Việt giáo
Hồn thiêng còn là Tổ Quốc ta còn
Dẫu cho rằng cách biển với ngăn non
Kinh dòng tộc đừng bao giờ để mất
Thời vận chuyển xoay, người thay ngôi, đổi bậc
Trăm ngàn năm sau ta vẫn là ta
Dòng máu Rồng Tiên, con cháu Ông Bà
Nửa ở lại, nửa theo Cha xuống biển!
Lật sử Nam để tìm người đại diện
Lấy gương Hùng (1) để tôi lyện khí hùng
Rồng (2) và Tiên (3) muôn thuở một dòng chung
Hai trong Một, tình keo sơn nội ngoại!
Đất có mất vẫn có ngày lấy lại

42
Dân phân li, cũng có lúc hợp quần
Văn hóa không còn, ta phải nhận chân
Là vĩnh viễn mất dân, mất nước
Giặc Hán năm xưa trăm mưu, ngàn chước
Độc ác, gian manh đốt sách, giết học trò
Mười thế kỷ trôi qua, bao tình huống cam go
Nước không mất bởi ta còn văn hóa!
Phỉ Cộng hôm nay đan tâm bôi xóa
Đạo Lý tiền nhân cùng văn hóa giống nòi
Lập đảng tranh ăn, dày mả tổ rước voi
Qua chủ thuyết tam vô ngoại nhập
Chúng nó còn, có nghĩa là chúng ta mất
Chúng ta còn, chúng nó vẫn trong ta
Bởi vì ta là văn hóa dung hòa
Không loại bỏ mà mở ra biên cương mới!
Tân niên kỷ loài người đang mong đợi
Là tinh thần của văn hóa trăm con
Là tinh thần “nửa biển, nửa trên non”
Dẫu muôn thuở vẫn vuông tròn trong Một!
THÔNG ĐIỆP 75
“Vơi chiếc quần xà lõn
Trên thân gầy chạy loạn bốn ngàn năm
Xuống biển theo cha là thông điệp 75
Vì nghĩa cả, vì nửa còn ở lại
Bốn biển, năm châu, điạ cầu biên ải
Thông điệp nầy sẽ mã mãi thường còn !”
Lấy mạng sống làm nên thông điệp
Cho nhân quần vạn kiếp soi chung
Khí Rồng Tiên, huyết vua Hùng
75 sự cố biến cùng tắt thông
“Trứng Rồng lại nở ra Rồng
Liu diu rồi sẽ ra giòng liu điu”
Lời không lời bấy nhiêu cũng đủ
Làm nổ tung dân chủ, nhân quyền
75 biến cố Rồng Tiên
Tận cùng thế giới, mọi miền soi chung!
TÂM SỰ NGUYỆN CẦU HAY KHI MÊ THẤY ĐỘ?


43
Con nào mơ mộng cao sang
Cầu xin Chúa giũ bình an tâm hồn
Lớn đâu đã hẳn là khôn
Thấy trong 49 vẫn còn non ngây
Bọt bèo nay đó mai đây
Cỏ may buổi hạ trông cây gẫm mình
Tạ ơn Chúa đã thương tình
Vì đời Chúa chịu đóng đinh thuở nào
Và chưng như giấc chêm bao
Mãi nghe rờn rợn đi vào thịt da
Khi con ngựa mất bẩy sa
Thương con Chúa cứu những ba bốn lần
Cột đình xóm hạ Đông Lâm
Trại Ba vĩnh Thạnh cõi âm cận kề
Dám nào nghĩ đến ngày về
A 30 với bốn bề tường vây
Nhiệm màu cảm nhận từ đây
Cảm thôi bởi Đạo khó bày giải ra
Vần thơ ta viết cho ta
Và thơ ta để tạ Cha trên trời
Ngôn từ cạn ý rậm lời
Chỉ vô ngôn mới rộng khơi nhiệm màu
Xuân về thơ dệt đôi câu
Trước tạ ơn Chúa, sau cầu bình an …
NHƯ CHUYỆN RỒNG TIÊN
Anh với em hiện thân như những hạt
Của cặp tiên rồng mang nghịch lý Âm Dương
Vì chủng tính quản chi nhiều mất mát
Nên đau thương chia cách vẫn xem thường
Em ở lại lên non cùng Mẹ
Cặm cuội tháng ngày xây dựng đất quê hương
Cho đồi núi mỗi nơi mỗi vẻ
Xây dựng Văn Lang hạ giới thiên đường
Anh theo Cha ra khơi tìm của quí
Trông việc làm như xuống biển mò kim
Nên sao khỏi nhiều tiếng tai dị nghị
Kẻ vô tình nào biết tiếng con tim
Nhớ buổi chia tay theo dòng sử mệnh
Tràn ngập đau thương anh ngã nón chào cầu

44
Huyền thoại hiện về nghe như mật lệnh
Cùng lời xin vâng hang lớp lớp bầy tôi
Kể từ ấy cách phương trời xa lắc
Bao hạt anh chiều ra đứng ngõ sau
Thổi về em niềm ươc mơ vằn vặt
Của quê hương xuất xứ tích trầu cau …
LUẬN BÀN THẾ SỰ THEO HƯỚNG ĐẠO GIA
Lật trang sách Ước không lời
Dựa vào đây biết Đạo Trời về đâu
Mỗi con số, mỗi nhiệm mầu:
Thiên Thư định phận đây rồi, không sai!
Con LI, con KHẢM an bài
Con LÔI hành MỘC con ĐOÀI hành KIM
Đông bình Tây quả truy tìm
Biển Đông sóng dậy nhận chìm Tàu ô …
Lũ cuồng tín, đám đảng Hồ,
Cả đám vô loại … cả lô tiêu đời!
Lật trang sách Ước không lời
Luận bàn thế sự ta chơi mà làm!
Luật TRỜI ĐẤT mãi như y
Phương Nam đã được con LI an bài
Bắc phương con Khảm hám tài
Thủy luôn khắc Hỏa, nhưng Đoài khắc Lôi
Tây phương chừ đã đến rồi
Nam phương trở lại giữ ngôi trị bình!
Trên bàn thờ đã chưng, trình
Qui luật xung khắc như in, vậy rồi!
VỀ CHUYỆN THẦN NÔNG
Thần Nông Bắc ? Thần Nông Nam?
Ông Thần huyền thoại chia làm hai ra!
Trong ý huyền tự của ta
Tượng hình Thái Cực chỉ ra hai vùng
Bắc lạnh, Nam nóng khắc xung
KHẢM LI có khác nhưng chung Địa Cầu
Xung khắc như thuẫn với mâu
Khác nhau rồi cũng qui hồi ‘Đồng Tương’!
Việt là Việt phương Nam
Cổ thời rộng lớn bao tràm China

45
Dần dần Tàu nó diệt ta
Bách Việt tan tác nay ra Việt nầy
Việt gian rước Chệch vào đây
Việt Nam rồi sẽ có ngày phải tiêu!
Giao cho đảng hết mọi điều
Giao cả chính trị là tiêu tán đời
Đừng vô cảm, chớ nghe lời
Tin vào Hồ Chệch là rơi vào tròng! …
Biết nhìn sử thật mới mong
Có đủ can đảm, mới hòng thoát Trung!
Ta, Tàu hai tộc không cùng
Hai nền văn hóa cũng đâu giống nào ?
Tàu đâu có phải “đồng bào”?
Chim Việt đẻ trứng cú vào hút ăn
Rồi lại đẻ trứng, thay bằng
Trứng loài cú vọ vệnh, vằng nẩy sinh ?
Bởi Tàu hay bởi tại mình
Vô minh phải chịu, phải nhìn, đừng nghe!
Bách Việt khi bị chiếm xong
Muốn đồng hóa được hầu mong lâu dài
Đám China mới triển khai
Sang đoạt văn hóa trổ tài cướp luôn
Lấy Huyền sử Việt làm khuông
Rồi thêm thắt chút duy dương Chệch vào
Thưa anh em! Thưa đồng bào!
Cái đám du mục đâu nào có văn ?!
Về Thần Nông nên hiểu rằng
Đây là “huyền tượng” dẫn bằng Đạo Thiên
“Nông” là không, không tuyệt nhiên
Trong nghĩa của chữ là không có gì!
Trong “Nông” vẫn có tí ti
Của nghĩa của chữ “yes”/”oui” bên trong
“Nông” gợi ý tượng cái vòng
Hư vô nhưng vẫn chứa trong chút gì
Từ “vòng” nầy mới khởi đi
Để thành Thái cực … Lưỡng Nghi, mới thành
Thưa các chị, Thưa các anh!
Hiểu “Nông”, thông Dịch mới rành được “Nông”!

46
HAI NHÁNH VĂN HÓA
Văn hóa ta hai nhánh chia
Một nhánh dùng chữ nhánh kia dùng hình
Dùng chữ dẫn đến văn minh
Dùng hình Đạo được tỏ trình chưng ra
Huyền tự dạy nửa theo cha
Cần dùng cái trí theo đà văn minh
Chia hai nào để chống kình
Chia hai thăng tiến lý, tình cả hai
Duy Thần sai, Duy Vật cũng sai
Nhân (người) đứng giữa an bài đôi bên
Thần Vật dung hợp mới nên
Trung lập bất ỉ chớ quên điều nầy!
ĐẠO VÀ GIÁO
“Đạo khả đạo, phi Thường Đạo”
Đạo diễn lời là Giáo đấy thôi!
Nói nào diễn tả được đâu
Đạo cần phải “thấy”, phải đâu nghe nào!
Lời nói có thể làm sao
Chỉ ra được Đạo siêu cao Đất (_ ) Trời ()?! Người nghe, hiểu Đạo qua lời Còn tùy tri thức ở nơi chính mình! Phải qua trải nghiệm chứng minh Phải cần chiêm nghiệm, quá trình, mới thông! Thưa quí Ngài, thưa các Ông! Tin vào sách quá, thà không sách gì!

Cổ Việt dùng tượng Càn (), Khôn (_ _)
Hình thành lý số thay lời chứa trong
Đạo, nghĩa đích thực, ĐƯỜNG VÒNG
Chuyển động chu dịch nằm trong Đất Trời
Vô Ngôn khó diễn ra lời
Tri âm mấy kẻ hiểu lời Vô Ngôn?
ĐỤNG ĐẦU TÀU MỸ, AI THẮNG AI THUA DỊCH

47
Đông dân là phúc của Tàu
Nhưng cái đại họa theo sau mấy hồi!
Điều chắc chắn sẽ tệ, tồi
Khi gió Tây thổi sẽ lôi Tàu nhào!
VĂN CHƯƠNG, ĐẠO LÝ VÀ HƯỚNG CHIẾT TRUNG VIỆT HỌC
Văn tạm dụng chấp vào chi
Bỏ lời lấy ý là đi đúng đường
Đạo, văn; văn,Đạo cần nương
Tỉ như hai thể âm dương kết cùng …
Việt Nho đi hướng chiết trung
Triết Nho mở rộng tận cùng: Việt Nho!
Văn chương như chiếc thuyền to
Như là phương tiện con đò sang sông …
Cùng các bạn! Thưa qúi ông!
Việt Nho chia sẻ nếu không vừa lòng
Chân tình ước muốn chỉ mong
Một trăm trứng Việt thoát tròng Hán Nho
Ngôn từ như thể con đò
Qua sông bỏ lại đi cho nhẹ nhàng!
Đờn kêu tích tịch tình tang
Văn chương như thể chiếc thang mượn trèo!
TÁO QUÂN HUYỀN THOẠI

48
“Thế gian một vợ, một chồng
Không như vua Táo hai Ông một Bà”
Không quần Táo để lòi ra …
Ai bày vẽ thế, gọi là Táo Quân?
Cả ba Táo đều không quần
Để lộ thứ “ấy” cho trần gian coi
Hai Ông là thứ có vòi
Còn Bà là cái âm lòi lỗ ra
“Quớ” người ta! “Bớ” người ta!
Huyền thoại không hiểu qủa là chí nguy!
Táo quân mang tượng con Li
Hai Ông đực rựa nguyên xi rõ ràng…
Xen vào giữa là một nàng
Quần không có mặc lộ hàng tượng Khôn (_ _)
Người bình dân gọi cái l…
Táo quân, thanh giáo các “ôn” có tường?
MIÊT MÀI “LÀM CÁI NẦY CHƠI”(1)!
(Viết cho bạn đọc hôm nay và cho con cháu dòng Việt muôn đời sau)
Sống là đâu phải sống vì
Chất chồng năm tháng làm chi mà mừng?!
Ta nay cũng cận bát tuần
Việc đi hay ở ta tuân mệnh trời!
Nghĩ xưa núi đổ, sông dời
Tha phương ta chọn cuộc đời lưu vong
Khi đi lòng mãi nhủ lòng:
“Đi là chỉ tạm lánh tròng dịch nô …
Tha phương tạm lánh Chệch vô
Đợi gió Tây thổi để xô chúng nhào”!
Gió Tây nay đã thổi vào
Năm qua, tháng lại chồng cao tuổi đời …
Ta làm: “Làm cái nầy chơi”
Hòng mong truyền lại những lời vô ngôn
Mấy ngàn năm bị vùi chôn
Nay ta sống để “làm chơi” chuyện nầy!
San Jose, 28/5/20. NVN

49
TỔNG QUAN NỀN VĂN HÓA VÔ NGÔN VIỆT DỊCH
H1 H2 H3
H1: Hà Đồ H2: Lạc Thư H3: Rùa Thần
Số chấm đen trắng trên H1: + H2 = 100 trứng trăm con của bọc Âu cơ gồn 50 gái (đ) +50 trai (t)
100 trứng đen trắng âm dương nầy viết ra lý số nhị phân với 3 hào Dịch (tam dương) sẽ là BQ và
viết với 6 hào Dịch (lục hào) sẽ cho ra 64 quái Dịch là toàn bộ Kinh sách vô ngôn
Thái Cực TTBQ HTBQ
BA HỆ TOÁN SỐ TRONG VIỆT DỊCH
8 Huyền Số Trong Huyền Thoại ở dưới Dạng Thập Phân:
0 1 2 3 4 5 6 7
8 Số Của Hệ Nhị Phân Dưới Dạng Dịch Nòng (0), Nọc (1)
000 001 010 011 100 101 110 11
8 Số Dưới Dạng Càn (_), Khôn ( _) Việt Dịch:
, , , , , ,
Cước chú: 7 hình của hai hàng trên là của trang đồ hình, còn phần ba hệ lý số là trang hai của
cuốn “Sách Ước Trinh Nguyên Không Một Chữ”, trang 3 là tramg trống để ghi phần dụng
Sự phát triển trực phân của Thái Cực để hình thành BQ

Trả lời

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất /  Thay đổi )

Google photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google Đăng xuất /  Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất /  Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất /  Thay đổi )

Connecting to %s