Danh từ “Giao Chỉ” có nghĩa là gì?

Đọc rất nhiều tài liệu, nghe rất nhiều thầy giáo bàn, chúng tôi ghi nhận hiện nay, có ba loại ý kiến khi bình giảng về danh từ Giao Chỉ, một trong các tên nước của người Việt.

Loại ý kiến thứ nhất: “Giao” là miền của Giao long (cá sấu). Đại diện tiêu biểu nhất của ý kiến này là giáo sư Trần Kính Hòa, đại học Huế trước 1975. Ý kiến này có mòi đúng khi người Việt rất giỏi đi thuyền. Ngụy Quyền miền Bắc của Tào Tháo khi đánh với Ngô – một nhà gần với Việt, thì không thể đánh nổi.

Loại ý kiến thứ hai: Còn “Chỉ” là miền đất những người có hai ngón chân cái xòe ngang. Loại ý kiến này lan ra khắp Việt Nam. Đến nỗi, nhiều giảng viên dạy chính trị học của Bắc Việt đi một loại dép để cho hai ngón chân cái nghiêng đầu vào nhau, cố tỏ ra chúng tôi là người Việt Giao Chỉ chính cống. Trong mái trường văn chương chúng tôi cũng thấy một ông giáo sư nói như vậy, nhiều người dễ dàng tin theo. So với ý kiến thứ hai này, ý kiến thứ nhất của giáo sư Trần Kính Hòa khả tín hơn.

Loại ý kiến thứ ba: “Giao” có nghĩa như Nam Giao, “Chỉ” là miền ở chân núi. Giao Chỉ là nét gấp đôi, là sử mệnh của tộc người Văn hiến chi bang. Đây là nhận định của giáo sư Lương Kim Định và nhóm giáo sư đại học Văn Khoa Sài Gòn trước 1975. Cách giải nghĩa này cho thấy được sử mệnh lớn lao của nước Việt, nơi giao hội Đông Tây Nam Bắc trên cả địa cầu.

Trong ba ý kiến ấy, ý kiến nào đúng?

Giao Chỉ, vốn được viết 交 止. Vậy thì, ý kiến thứ ba nhiều phần lẽ đúng. Nhà sàn là một hình ảnh cụ thể hoá ý niệm người là trung gian giữa trời cùng đất. Trời chỉ bằng nóc nhà có chim đậu trên. Đất chỉ bằng nền nhà. Người ở giữa gọi được là nơi giao chỉ ( giao thoa của chỉ trời chỉ đất).

Trước hết khoa học giải phẫu chứng minh là không có giống người hai ngón chân đâm ngang ( tên khoa học là Hallux varus). Thực ra cũng có một tộc, trong số nhiều tộc Việt, có hai ngón chân ngoạm vào nhau như vậy. Bầu không khí duy vật sử quan, cho nên giảng viên chính trị mới mua thêm đôi dép. Tộc đó là thiểu số và không phải là đại diện tiêu biểu của người Việt để đến nỗi phải lấy hình dạng dị thường của tộc đó đặt tên cho cả khối dân Việt.

Tiếp theo, các sách cổ nhất khi nói đến tên Giao Chỉ như sách Phong Tục Thông, sách Thượng Thư, sách Sơn Hải Kinh, Bác Vật Chí, Hậu Hán Thư…đều không có nói đến ngón chân xòe ra. Chỉ mãi 6, 7 trăm năm sau mới có những học giả Tàu nhân vì chữ Giao Chỉ mới cho tên là do đó. Huyền thoại về bàn chân Giao Chỉ cũng tự sau này mà đặt ra, học giả Việt vốn có óc bác học suông, không đủ con mắt triết lý và dễ đi theo cái sai của học giả Tàu.

Giáo sư Hòa là người chịu khó tư duy. Thậm chí, giáo sư Trần Kính Hòa sửa chữ Giao Chỉ cho giống với ý kiến của mình, từ 交 止 trở thành 蛟 趾. Tức là vẽ thêm bộ, chạy theo chân của rắn thêm vào sau. Hầu hết nơi nào trên thế giới cũng có cá sấu nhưng chỉ có Việt Nam mới có thuyết lấy tên cá sấu làm địa danh chỉ vì nó có tên là giao. Giáo sư Hòa đã bác được thuyết ngón chân giao nhau mà lại rơi vào thuyết Giao Long. Vì sự thực cả hai thuyết thứ nhất và thứ hai đều thuộc “duy vật sử quan”. Là vì đã không chú ý đến toàn thể là bầu khí tâm linh sử quan. Giao Chỉ là thời không liên tục. Time-space continuum. Thể hiện rất rõ trong lịch pháp của người Việt.

Khi ta nói thì phải dựa trên một nền tảng. Nền tảng ở đây là cuốn sách lâu đời nhất đến nỗi gọi là Thượng Thư hiểu là Thượng Cổ. Mở đầu Kinh Thư gọi là Nam Giao so với Bắc phương gọi là Sóc Phương. Đó là sự đối đáp tiên thiên và cao trọng nhất trong nền văn hóa Việt Nho không nên tách ra khỏi cơ cấu đó để đi tìm ý nghĩa bên ngoài.

Liên lạc tác giả: tonphi2021@gmail.com

18/12/2020

Trả lời

Điền thông tin vào ô dưới đây hoặc nhấn vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất /  Thay đổi )

Google photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google Đăng xuất /  Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất /  Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất /  Thay đổi )

Connecting to %s