Việt Nhân: Thư hồi âm cho một thân hữu về nan đề bất công xã hội

Lời giới thiệu: Tác giả Việt Nhân là nhà khoa học, hiện đang sinh sống tại Hoa Kỳ. Ông đồng thời là một triết gia không chuyên nhưng có uy tín của cộng đồng người Việt hiện nay.

Thưa chú ,
Cảm ơn chú đã có lời chúc tốt lành. Cầu xin cho chú thím và cháu luôn được khỏe vui và mọi sự tốt lành. Cảm ơn chú đã có câu hỏi quan trọng về chế độ bình sản của tổ tiên Việt.


Chúng ta hãy nhìn ra xa xôi một chút và ôn cố tri tân. Khi muốn phục vụ con người thì phải xây dựng xã hội mang tính chất nhân bản, có nhân thì mới phục vụ được con người, còn thứ văn hóa vật bản thì chỉ thích hợp cho cầm thú.

Con người phải xây dựng xã hội nhân bản để phục vụ con người, chứ không đày con người bắt phải phục vụ chế độ mang tên thiên đường mù, lấy xã hội làm đầu và lấy con người làm chân. Hai nữa, nan đề của đất nước cũng như thế giới là con người, con người nhân nghĩa mới làm nỗi việc phục vụ mọi người, còn con người bất nhân bất nghĩa thì chỉ phục vụ được nhóm nhỏ cùng loài như ngưu mã.

Tổ tiên chúng ta đã có chế độ bình sản. Chế độ bình sản đáp ứng được hai nhu yếu thâm sâu của con người, đó là quyền được ăn và quyền được nói. Quyền được nói là nhu cầu của tinh thần, quyền được ăn là nhu cầu của vật chất , phải có đủ hai nhu yếu đó mới đáp ứng được nhu cầu của con người đúng nghĩa.

Muốn được nói thì con người phải có tự do. Có hai thứ tự do: tự do hàng dọc và tự do hàng ngang. Muốn có tự do hàng dọc với thiên địa thì phải có tự do tôn giáo với tự do văn hóa và nhân quyền. Người dân phải đóng thuế để chính quyền thiết lập các cơ chế xã hội cũng như tạo cơ hội cho người dân trau dồi tư cách và khả năng. Còn tự do hàng ngang với tha nhân thì phải lo cho mọi người có cuộc sống vật chất xứng với nhân phẩm, đây là vấn đề công bằng xã hội.

Vấn đề quan trọng nhất của xã hội là vần đề công bằng tương đối mà không là công bằng tuyệt đối. Vấn đề công bằng xã hội dựa vào hai yếu tố: thiên bẩm và nhân vi.

Thiên bẩm là khả năng con người bẩm thụ được từ trời đất như thể xác và tinh thần. Về thể xác thì có người mạnh, người trung bình, người yếu, thâm chí có người tàn tật không làm được gì! Về Tinh thần thì có người thông minh dĩnh ngộ, có người có trí thông minh trung bình, thậm chí có người u tối. Trời sinh ra con người cách biệt nhau như thế, người thì làm ra mỗi giờ được hàng trăm hàng ngàn, ngưòi thì được vài chục vài trăm, thậm chí có người không làm ra đồng nào. Vậy làm sao mà tạo ra công bằng xã hội với yếu tố thiên bẩm? Thế giới ngày nay đã có 7, 8 tỉ người, không có ai giống ai từ tư cách đến khả năng, làm sao mà so lại cho đều? Đây là nan đề lớn nhất của nhân loại, nhân loại đang thất bại ê chề ở lãnh vực này.

Còn vấn đề nhân vi thì rõ ràng hơn, trong những người được thiên bẩm ưu đãi có của cải thì một số đã dùng ưu thế của mình để làm chuyện bất công đề làm giàu thêm gây khổ đau cho người khác. Trước đây cha ông chúng ta đã có chế độ bình sản, ngày nay các nước Tây phương đã có quỹ An sinh xã hội đã giải quyết được phần nào, nhưng cũng chưa thật hiệu quả.

Khi tâm linh và khoa học có được nâng cao đồng bộ thì đời sống toàn dân mới được cải thiện. Khoa học giúp con người có khả năng ăn nên làm ra , để “Có thực mới vực được đạo” ( Đạo lý Nhân sinh ). Tâm linh giúp cho con người trau dồi tư cách, biết cách ăn ở công bình mà hoà với nhau. Khoa học giúp cải tiến dân sinh, tâm linh giúp nâng cao dân trí và dân khí. Vấn đề chính là hai lãnh vục tâm linh và khoa học chưa được ổn thỏa hay chưa được lưỡng nhất.


Có chế độ chính trị giải quyết vấn đề bất công xã hội bằng cách tước quyền được ăn ( quyền tư hữu ) và quyền được nói ( tự do văn hoá và tôn giáo) kể như họ đã tước mất thiên tính của con người, khiến con người chỉ còn vật tính, mọi người phải lao đầu vào cái ăn và tự do để giằng xé nhau!!!

Còn những chế độ khác cũng lăn xả vào khoa học để dành hơn thua, nên đời sống xã hội còn bị mất quân bình. Cặp đối cực tâm linh / Khoa học như hai mặt của một đồng tiền không thể tách rời, nhưng tâm linh là gốc, khoa học là ngọn, gốc có vững mạnh thì ngọn mới xum xuê! Ngày nay người ta coi nhẹ đời sống tâm linh, đó là lý do làm đời sống con người mất quân bình, xã hội rối loạn. Muốn cải tạo xã hội thì phải canh tân con người cho có tư cách và khả năng và đồng thời thiết lập chế độ nhân trị. Chế độ nhân trị gồm lễ trị và pháp trị. Lễ trị thì cần huấn linh về đời sống tinh thần, pháp trị cần bác vấn về khoa học kỹ thuật, luật pháp công minh.

Đồ hình của văn hóa Việt Nam về chế độ nhân trị:


Thưa Chú,

Dưới đây là vấn đề mà Chú hằng lưu tâm:

VẤN ĐỀ CÔNG BÌNH XÃ HỘI

( Trích trong cuốn “ Khi Đông Tây Giao Hội “ của Việt Nhân

A.-NHỮNG GÌ CHÚA TRAO BAN

( Trích ba dụ ngôn trong Tân Ước Mã Thi.( Mát Thêu ) Thánh kinh hội Quốc tế xuất bản 1994 )“

“ Nước trời giống như trường hợp người chủ lên đường viễn du, gọi các đầy tớ vào, ủy thác cho họ tài sản của mình. Chủ giao cho mỗi người tuỳ khả năng: Người thứ nhất 50 lạng vàng, người thứ nhì 20 lạng và người thứ ba 10 lạng. Sau khi chủ lên đường, người 50 lạng lập tức kinh doanh, lời được 50 lạng. Người 20 lạng cũng đầu tư, thu lời 20 lạng, còn người nhận 10 lạng đào đất chốn giấu số vàng của chủ. Sau một thời gian khá lâu, chủ trở về, tính sổ với các đầy tớ. Người nhận 50 lạng đem thêm 50 lạng đến trình: “Thưa chủ, 50 lạng vàng chủ giao, tôi làm thêm được 50 lạng nữa” . Chủ khen: “Tốt lắm, con rất ngay thật trung thành. Con đã trung thành trong việc nhỏ, nên sẽ được uỷ thác nhiều việc lớn. Con đến đây chung vui với ta.” Người nhận 20 lạng cũng bước đến thưa chủ: “20 lạng vàng chủ giao, tôi làm lời thêm 20 lạng nữa.” Chủ khen: “Con rất ngay thật trung thành. Con đã trung thành trong việc nhỏ, nên đã được uỷ thác nhiều việc lớn. Con đến đây chung vui với ta.”

Người nhận 10 lạng đến phân trần: “Thưa chủ, tôi biết chủ khắt khe, hay gặt hái trong chỗ không gieo, thu hoạch ở nơi không trồng. Vì lo sợ nên tôi tím chỗ chôn dấu vàng của chủ, và đây tôi xin giao lại số vàng cho chủ.” Chủ quở trách: “Anh thật gian ngoa lười biếng! Đã biết ta thu hoạch lợi tức, sao anh không gởi số vàng ấy vào ngân hàng để khi ta về lấy cả vốn  lẫn lời?” Rồi chủ ra lệnh: “Đem 10 lạng này cho người có 100 lạng! Vì ai có, sẽ được thêm đến mức dư dật, còn ai không có, dù còn gì cũng bị lấy đi.”

Còn tên đấy tớ vô dụng kia, đem quăng nó vào chỗ tối tăm, đầy than khóc và nghiến răng!

B. Ý NGHĨA CỦA LẠNG VÀNG

Trước khi viễn du, người chủ gọi đầy tớ đến rồi giao vốn cho các tôi tớ “làm Lời”. Đây là ẩn dụ nói về việc Chúa sáng tạo ra loài người hay cách khác là con người được bẩm thụ từ Thiên Chúa: Người thì được Chúa ban phát 50 lạng, người thì 20 lạng, người thì 10 lạng. Các lạng đây chỉ về thể chất và tinh thần mỗi người lãnh được từ khi cha mẹ sinh ra, tức cũng là từ Chúa trao ban cho.

II.-THIÊN CHÚA TẠO RA CON NGƯỜI DƯỜNG NHƯ BẤT CÔNG

Khi giao cho đầy tớ -con cái Chúa-, mỗi người một số Lạng khác nhau, người thì 50, kẻ 20, người khác thì 10, nên về Trí tuệ,người thì thông minh, người thì có sự hiểu biết trung bình, người thì u tối, về thể xác người thì khỏe mạnh, kẻ thì gầy yếu, người là lực sĩ, kẻ lại tật nguyền, vì thế mà những con người trong nhân loại đã có tư cách và khả năng khác nhau ( do sự bẩm thụ khác nhau) được diễn ra dưới muôn hình muôn vẻ. Do thiên bẩm khác nhau, mà có kẻ thông minh, người kém hiểu biết, kẻ giàu người nghèo, kẻ sang người hèn, kẻ lành người dữ, người thì làm ra mỗi giờ hàng ngàn, kẻ thì không làm ra một đồng xu, đưa tới cảnh “Người ăn không hết, kẻ lần không ra“.

Ngoài ra, có một số người với thiên bẩm trội hơn, tuy đã có đời sống sung túc, nhưng lại còn dùng ưu thế của mình để áp bức bóc lột người thấp cổ bé miệng để làm giàu thêm, gây nên muôn vàn bất công trong xã hội. Vậy nguồn gốc của mọi bất công làm rối loạn xã hội xưa nay đều do hai nguồn: thiên bẩm và nhân vi. Thế mà xưa nay hầu như người ta chỉ lưu ý tới nạn bất công do nnhân vi, mà không nhận ra nạn cho là bất công dường như cũng đến từ gốc thiên bẩm.

III.- CON NGƯỜI PHẢI SỐNG NHƯ THẾNÀO TRONG MÔI TRƯỜNG XÃ HỘI

DƯỜNG NHƯ BẤT CÔNG?

Mỗi người được sinh ra ngoài sự lựa chọn của cha mẹ mình và chính mình, có hỏi Trời, Trời cũng chẳng nói, vậy con người biết làm sao đây ngoài việc tìm cách hành xử thích hợp với môi trường để tồn tại và phát triển. Ngoài sự bất công nơi loài người như thế thì trong vũ trụ cũng chẳng khác, mặt đất thì chỗ cao nơi thấp, nước bao giờ cũng chảy trên cao xuống thấp, gió  cũng di chuyển từ nơi áp suất cao tới áp suất thấp, dòng điện cũng vận chuyển từ điện thế cao tới điện thế thấp, . . . tất cả đều nhắm khỏa lấp bớt sự cách biệt, nhưng nhờ có cách biệt mới có sự biến hoá, chứ khi mọi thứ đã san bằng rồi thì vũ trụ hết biến hoá, sự sống bị tiêu diệt. Vậy sống trong thế giới hiện tượng, mọi sự đều biến hóa không ngừng, con người phải nương theo thời tiết, nương theo định luật thiên nhiên để tồn tại và phát triển. Con người được sinh ra với bẩm sinh cách biệt dường như bất công, lại sống trong môi trường vũ trụ cũng xem ra cũng bất công, con người không có cách nào hơn là phải sống hoà nhập vào hiện tượng thiên nhiên, sao cho đỡ bất công để mọi thứ được giao hoà với nhau nhất là hòa cùng tiết nhịp tiến hoá của vũ trụ. Có như thế thì mới giúp con người được phát triển toàn diện.

Là một trong Tam tài, là “ Nhân linh ư vạn vật“, nên con người phải tìm cách thăng hoa cuộc sống để được tiến lên trong ba đợt:

“ Một là con người chất thể chung với con vật lo về ăn, mặc, ở và làm, cốt để giữ đời sống sinh lý hoàn toàn ngoại vi.

Thứ đến con người Văn hoá lo về Lý trí, Tâm tình, Văn học, Nghệ thuật, Thi ca,

Nhạc, Họa.. . Đây là đợt riêng biệt cho con người.

Đợt ba con người Tâm linh lo đi đến chỗ“ chí Thành như Thần”. Con người siêu lên đợt trên hoàn toàn nội tâm, con mắt không thấy được, nên cũng gọi được là vô, là trống, như ta có thể thấy rõ trong trống Đồng có 3 vòng thiên, địa, nhân này. Người lý tưởng phải gồm được cả ba. Tuy đợt chất thể là chung với con vật, nhưng không được khinh khi. Văn hoá trọn vẹn phải lo cho mọi người no đủ, vì đói thì chẳng làm được gì về văn hóa văn học cả, nên văn hoá nào không móc nối con người sinh lý là nền văn hoá nguy hại, nhất là làm cho con người mất khả năng mở lên đợt ba thì rõ ràng là thiếu nguyên lý Mẹ, mà nguyên lý Mẹ ( Trọng Tình hơn Lý ) rất dễ mất, vì là đợt ẩn sâu trong tâm hồn.” ( Thái Bình Minh Triết. Kim Định. Tr.46 –47 ).

Nếu không có thế giới hiện tượng “ Nước lỏng chảy xuống, hơi nước bay lên” như thế, thì con người không có môi trường tiến hoá để vươn lên đời sống siêu việt, thì làm sao con người được xứng danh là con cái Thượng Đế. Khi được sinh ra thì con người mới là con người “ Quỷ / Thần chi hội“ hay con người đang thành, nên công việc làm người ( vi nhân ) cho đạt tới vị trí người còn vô cùng khó khăn, nhưng cũng rất cao cả. Có phải đây là Ý của Thượng Đế muốn mọi con cái của Ngài phải biết sống theo cách “ Vâng Ý Cha dưới Đất cũng như trên Trời?”

Ý Cha là con người phải thực sự “yêu mọi người” và trước tiên là phải “mến Chúa hết lòng và hết trí khôn”. Có vi nhân được như thế thì con Người mới hành xừ với nhau được tương đối công bằng.

IV.-ĐÂU LÀ Ý CỦA THƯỢNG ĐẾ

Theo Việt Nho thì Ý của Thượng Đế chính là Đấng tạo ra Thiên lý, mà Thiên lý là Dịch lý tức “Chân lý ngược chiều” được vận hành trong vũ trụ: Tâm linh và Thế sự (Khoa học ) là chân lý ngược chiều, như khi thở vào thì phổi đầy không khí, khi thở ra thì không khí chẳng còn, trong cuộc sống con người cũng thế, muốn tồn tại ở trần thế thì ta phải chấp, phải chiếm hữu, nhưng khi muốn trở về nguồn tâm linh là nguồn vô nên phải phá, bỏ hết mọi sự, có biết sống nhịp nhàng cân bằng giữa cặp đối cực Chấp / Phá ( Receiving /Giving ) như thế thì mới thuận thiên, cha ông chúng ta đã bảo: Mọi sự có mà như không, không mà lại có, con người phải nhận ra sự biến hoá không ngừng trong vũ trụ để nương theo đó mà tồn tại và phát triển được.

Môi trường sống và con người đều chứa sự bất công, nhưng nhờ sự mất cân bằng mới có biến hoá, có biến hóa mơi tiến bộ, nên con người cũng phải nhịp theo Thiên lý mà làm giảm bớt sự bất công để lập thế quân bình động-Thế Hòa giữa hai đối cực -đó là sứ mạng của con Người phải sống theo Dịch lý. Mặt khác con người không thể dựa vào những Lạng được trao ban, mà chiếm ưu thế sống riêng cho mình, phải dựa vào số nhân lãnh mà “ làm Lời “ mà đóng góp chung cho cuộc sống Hòa. Lời ( receiving ) ít thì phải cho ( giving ) ít, lời nhiều thì phải bù nhiều. Con Người cũng không thể dựa vào số lạng mà phân biệt cao thấp sang hèn, mà dành phần ăn trên ngồi trốc, Chuá Giê-su đã phán xét rõ ràng. Những con người thông minh mẫn tuệ, mà không làm gì cho xã hội để khỏa lấp bớt bất công xã hội để giúp mọi người sống hoà với nhau là nghịch thiên lý. Đó là công việc vi nhân theo nghịch số, đây là công việc vô cùng khó khăn, nhưng với con Chúa là con người nhân chủ, biết tự lực tự cường và sống thuận theo Thiên lý thì đạt Đạo, con người trở nên rất cao cả .

Cha ông chúng ta đã bảo Thiên chúa, Thượng đế là Hoá nhi, mà “ Hoá nhi đa hý lộng” , nên trong cuộc sống con người phải rất uyển chuyển mà hý lộng theo, có khi xem những cái nhỏ còn quan trọng hơn những cái lớn, ( Vật khinh hình trọng) đó là những cái sảy nảy ra cái ung, có khi lại xem “ cái không“ quý hơn “cái có”, như bức tranh vô giá, vô giá là nhờ vào cái “Hồn” chính là cái “ Vô “ của bức tranh. Vẽ tranh không chỉ vẽ cái xác mà còn “ phải vẽ làm sao cho nổi lên “ được cái Hồn của bức tranh thì mới đạt nghệ thuật.

Thời này nhiều người tôn vật chất làm chủ ( vật chủ ), họ đấu tranh, chèn ép, dành dật, cướp giết nhau cho thêm vật chất dư dật tích trữ đầy kho chật lẫm, trong cảnh xã hội tràn ngập bất công, làm cho con người khổ đau. chỉ vì họ chỉ còn cái Xác mà đã đánh mất cái Hồn. Vì không hiểu Thiên ý hay Lý nghịch số, nên triết gia thượng thặng ở Âu châu như Platon chấp nhận chế độ nô lệ, cho rằng nếu không có nô lệ thì lấy ai làm việc, vì giai cấp thượng lưu, giai cấp qúy tộc tự cho mình là những người thượng đẳng có quyền “ ngồi mát ăn bát vàng”.

Còn Chúa Giê-su thì ngược lại, ngài cũng lao động, cũng sống đời sống bình thường như mọi người. Ngài bênh vực những người bệnh tật khốn khổ, khó nghèo, tội lỗi để xoa dịu bớt cảnh bất công. Đáng lẽ các vị lãnh được nhiều lạng phải lưu tâm đem số lời của mình vào việc khỏa lấp bớt bất công xã hội. Những thành phần giàu có, quyền thế cứ thản nhiên tạo ra thêm bất công, nên mới nảy sinh ra các chế độ như phát xít và tương đương.

V.-NAN ĐỀ BẤT CÔNG XÃ HỘI

Nan đề xã hội muôn thuở vẫn là sự bất công trong gia đình và ngoài xã hội: Người ta chỉ biết một số bất công do cách ăn ở của con người tạo ra, còn sự dường như bất công qua số Lạng nhận lãnh từ Thiên Chúa thì không biết đến, nên cách ứng xử của con người với vấn đề bất công xã hội không thể giải quyết ổn thỏa.

Một số trong Giai cấp thượng lưu, giai cấp quý tộc, nhất là đế quốc thực dân, giai cấp địa chủ tuy nhờ Thiên bẩm mà có đời sống Tinh thần và Vật chất cao hơn, đáng lý họ cũng nương theo luật Thiên nhiên, biết lấy Nhiều bù Ít, lấy Mạnh giúp Yếu, lấy Lành cảm Ác, nhưng một số đã không lý tới nguồn gốc sự bất công đã có trong xã hội mà còn tạo ra bất công làm khốn khổ con người.

Vấn đề là không thấy được nguồn gốc của bất công là do Thiên bẩm và cũng do con Người, nhất là không hiểu rõ Thiên lý tức là Dịch lý nghịch số để có những ứng xử thích hợp. Không thấy được con người muôn màu muôn vẻ về tư cách và khả năng khác nhau thì làm sao mà đòi hỏi được sự công bằng tuyệt đối trong xã hội. Một người làm một giờ được hàng trăm hàng ngàn, còn người khác thì không làm ra một xu, thì công bằng làm sao đây?

Nhưng mặt khác không lo tìm cách giảm thiểu bất công xã hội thì xã hội cứ tranh đấu cướp bóc nhau, đâm chém nhau mà gây đau khổ cho nhau, thì rốt cuộc dẫn nhau xuống hố. Chỉ khi nào mọi người nhận rõ nghịch số của Dịch lý mà hành xử thuận theo Thiên lý làm cho hai đối cực bớt cách biệt mà Hoà với nhau thì mới ổn thỏa. Chỉ có những người sống thực sự theo tinh thần Hòa của Tôn giáo mới giải quyết được nan đề, nhưng khổ thay nhiều khi Tôn giáo chỉ “ lấy Đạo tạo Đời “ nên cũng vô bổ.

Căn bản vấn đề là: Con người bất toàn với tư cách và khả năng khác nhau, nếu cứ theo đà “mạnh được yếu thua, kiến ăn cá cá ăn kiến” thì cả hai phía người giàu kẻ nghèo sẽ dồn nhau vào chỗ chết. Chỉ có con người biết chấp nhận nhau là những con người bất toàn giúp nhau sống tương đối công bằng với nhau để sống hòa với nhau. Muốn thực hiện cuộc sống công bằng với nhau thì tiên vàn mọi người phải đều biết tôn trọng nhau, vì đều là tinh hoa của Trời Đất, nên phải yêu thương nhau, chấp nhận những dị biệt của nhau mà tha thứ cho nhau, và ăn ở theo lối hai chiều: «có đi có Lại, phải người phải ta «thì mới đi đến chỗ Hoà mà sống yên vui với nhau được.

VI.-CÔNG BẰNG XÃ HỘI TƯƠNG ĐỐI

Do số Lạng “nhiều ít đầu tiên được nhận lãnh từ Thiên Chúa” mà con người không thể có công bằng tuyệt đối trong thế giới hiện tượng tương đối. Nhưng chỉ trong thế giới hiện tượng tương đối mà con người có môi trường để vi nhân bẳng cách hoàn thiện những thứ bất toàn. Nhiệm vụ cao cả và khó khăn nhất của nhân loại là khi sống trong thế giới bất toàn phải tổ chức thế nào để cho ai ai cũng có điều kiện sống hợp với nhân phẩm. Đó là nhu yếu thâm sâu của mọi con người:

Quyền có Ăn và quyền được Nói. Nhân loại đã thất bại triền miên trong công cuộc Vi Nhân căn bản này. Ta nên nhớ con người là một trong Tam tài, nên phải hành kiện như “ Thiên hành kiện bất tức: Trời hoạt động không ngừng nghỉ qua các Hiện tượng biến hoá trong thiên nhiên, nên con người cũng phải làm việc không nghỉ ngơi để tạo ra của cải Vật chất và của ăn Tinh thần.

Làm ra cái Ăn là một trong nhu yếu nền tảng của Nhân quyền, khi bảo vệ được cái Ăn thì có Nhân quyền, cái Ăn cũng được gọi là quyền Tư hữu.

Trong chế độ Tư bản thì quyền Tư hữu tuyệt đối, nên những người nhận được nhiều lạng lại có quá nhiều Tư hữu, mà người ít lạng thì lại không có cái Ăn, trở thành Vô sản, nên vô Nhân quyền luôn.

Mỗi cá nhân nhờ hoạt động của Trí óc và Tay chân mà sản xuất ra của cải gọi là quyền Tư hữu.

Sản vật do trí óc và mồ hôi nước mắt của mình tạo ra thì mình có quyền hưởng mà không ai có thể tước đoạt, chỉ những tài sản nào không do công lao của mình mà chiếm lấy thì mới bất công.

Giàu nghèo mà do bóc lột và bị bóc lột mới bất công. Những người giàu dùng mưu gian và quyền thế để bóc lột kẻ nghèo mới bất công, còn người nghèo vì lười biếng mà nghèo thì cũng chẳng do bất công.

Yêu cao cả giúp biết chia sẻ với người thất thế trong cuộc sống, nhưng vấn đề công bằng tương đối trong xã hội lại thuộc về trách nhiệm của nhà cầm quyền.

VII.-CÔNG BẰNG TƯƠNG ĐỐI TRONG XÃ HỘI NÔNG NGHIỆP VÀ KỸNGHỆ

Thế mà trong chế độ Nông nghiệp thô sô, Cha Ông chúng ta đã biết lấy Công điền Công thổ để điều hòa giữa Công và Tư hữu để giúp cho những người bất hạnh có cuộc sống tương đôi xứng với Nhân phẩm.

Trong chế độ Nông nghiệp xưa tại miền Bắc và miền Trung, Công điền và công thổ trong mỗi làng chiếm hơn một nửa. Công hữu này đưọc cấp phát cho những người thất thế, những cô nhi quả phụ, những người tật nguyền, mỗi người đều được cấp phát một số sào ruộng để họ “ tự canh tác lấy“ mà sống, không ai có thể dùng miếng ăn để bắt nạt họ.

Còn ngưòi tật nguyền thì lấy ruộng đất được cấp phát cho “ Rong canh “ tức là cho người khác cày cấy để thu tô tức là thu một số thóc, tuy là ít nhưng họ không có bị chết đói.

Đây là cách giải quyêt vấn đề Công bằng tương đối trong xã thôn ngày xưa..

Trong xã hội Kỹ nghệ Tây phương nhất là Hoa kỳ đã dùng thuế lũy tiến, tức là lấy tư hữu đóng góp vào Công hữu để thiết lập những tiện nghi công cộng cho mọi người chung hưởng, nhất là thiết lập Quỹ An sinh xã hội để giúp những người thất thế về trợ cấp xã hội cũng như bảo hiểm y tế giúp họ được sống như là một con người có nhân phẩm , ngoài ra còn giúp huấn nghệ cho họ sống tự lập được.

Ngày nay vấn đề này đang được đun đẩy giữa Obamacare và Trumpcare. Obamacare thì tăng thuế người giàu để giúp cho người già, người có lợi tức thấp cùng bảo hiểm sức khỏe cho họ, còn Trumpcare thì bớt phúc lợi cũng như bảo hiểm sức khỏe của người già và người nghèo để giảm thuế cho người giàu. Xem ra hai đảng Cộng hòa và Dân chủ chưa gặp nhau nơi tinh thần Hiến pháp ” Hợp Chủng Quốc“, nghĩa là phải dàn xếp mọi sự làm sao cho: Bác ái / Công bằng trở thành Lưỡng nhất →1: Dual unit: 2→1). Tinh thần đó sẽ Lưỡng nhất khi hai Đảng biết hành xử theo tinh thần “ Quần nhi bất Đảng“, nghĩa là hai Đảng phải tuân theo tinh thần Hiến pháp đoàn kết với nhau theo lẽ Công chính biết đặt quyền lợi của Nhân dân trên quyền lợi của Đảng.

.“VIII.-KẾT LUẬN

Người Tư bản định nghĩa rằng: “ Greed is good, Capitalist is greed”. Nho giáo thì “ Nhân dục vô nhai: lòng tham không đáy “ là nguyên nhân làm cho “ Đạo Tâm suy vi, Nhân Tâm duy nguy”. Quả thật lòng tham của con người là nguồn rối loạn của xã hội, vì lòng tham là nguồn cội của bất công trong gia đình và xã hội. Trong xã hội thì gây nên một đấu trường dưới trăm mưu nghìn kế để tranh dành: Địa vị,Quyền lực, Danh vọng, Tài sản, Tình ái. Những con người yếu đuối thế cô là nạn nhân. Nhìn chung thế giới ngày càng chồng chất bất công. Xem thế lối tổ chức đời sống sống gây ra bất công, khi nạn bất công xã hội đi đến cùng cực mà không tìm cách giải quyết tận gốc rễ thì ngày tận thế không xa.

Vấn đề chính là ai cũng có nói mà chẳng ai lưu tâm làm thật sự, một số người làm chưa đủ mà mọi người phải giúp nhau cùng làm mới được!

Việt Nhân

nvietnhan27@yahoo.com

Trả lời

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất /  Thay đổi )

Google photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google Đăng xuất /  Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất /  Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất /  Thay đổi )

Connecting to %s