Bốn chặng đường huyền sử của nước Việt.

 Nhất Điểu, nhì Ngư, tam Xà, tứ tượng

Vào bài

 Đây là những biểu tượng từ Vật Tổ được thăng hoa  ( Trancend,  trancendent )  thành Vật biểu  thuộc Giai đoạn Huyền sử: Giai đoạn sáng tạo tinh thần Văn Hoá Dân tộc Việt.

Chữ Việt ( Ngoài Việt Mễ ( ) , Việt Tẩu ( )  còn có nghĩa là vượt lên những khó khăn, trở ngại hàng ngày mà Làm Người có Nhân bản,  cũng như  thăng hoa cuôc sống lền miền Siêu việt tức là nguồn Tâm linh qua 3 giai đoạn : Bái vật, Ý hệ, Tâm linh.

            Việt Điểu: thuộc giai đoan  Chim Âu bay lên Núi cao  mà “Đôn hồ Nhân, cố năng ái ) gọi là Vũ hoá, giúp Chim  Âu (Âu Cơ ) thành Tiên tức để có  lòng Nhân ái.  “ Nhân giả nhạo Sơn: Mẹ Non Nhân.

            Việt Long thuộc giai  đoạn Giao long, Xà long , lưỡng nhất thành Rồng, Rồng  lặn xuống Biển sâu  như  Lạc Long  để trưởng Trí gọi là Trí  hay  Lý Công chính  hay Nghĩa. Trí giả nhạoThủy: Cha Nước Trí.

Nhân / Trí lưỡng nhất : Hùng / Dũng

Nhân / Nghĩa lưỡng nhất : Bao dung

Thời Vua Hùng Vương: Con Hùng Cường: Khởi đầu Giai đoạn Lịch sử.

Viêt Long : Ngư hay Cá vượt Vũ môn thành Rồng ( Cá sống trong môi trường Nước,   thuộc hành Thuỷ: Phương Bắc. )  Rồng mà vào ngày 23 tháng Chạp Ông Táo cưỡi để đi chầu Trời.

Việt Tượng:  Tượng là Vật Tổ của Ấn Độ,thời bị ảnh hưởng của Văn Hoá Ấn Độ về : Đạo Phật, Triết lý Vô vi.

Trích Bốn chặng Huyền sử nước Nam của Triết Gia Kim Định

—————————————————————————————————-

BỐN CHẶNG HUYỀN SỬ NƯỚC NAM 

( Triết lý cái Đình: VI., VII, VIII, IX.  . Kim Định )

A.- Bốn giai đoạn Huyền sử

“ Có thể chia huyền sử nước ta làm  ba giai đoạn cộng với giai đoạn bản sử Nam Việt nữa thì được bốn chặng huyền sử Nước Nam, là :

                                    Việt Điểu

                                    Việt Hùng

                                    Việt Ngô

                                    Nam Việt.

I.- Việt Điểu sào Nam chi

Giai đoạn đầu tiên là Việt Điểu cũng gọi là Việt Hồng Bàng.     Ta đã biết Thục Sơn sáng lập ra Nho giáo, bấy giờ phải minh chứng thế nào cho thấy Việt Nam với Thục Sơn là một, ít ra có liên hệ chặt chẽ thì mới có lý nói Việt Nam đã đóng góp vào việc hình thành Nho giáo.   Vậy trong khi tìm về nguồn ta thấy Việt Nam có liên hệ mật thiết với Thục Sơn không những trong Huyền sử  mà cả ngay trong lịch sử.   Xin hãy nói về sử tức là lúc Đường Mông là sứ giả do Hán Vũ Đế ( 148 – 68 ) sai sang Nam Việt báo tin lên ngôi và dụ Nam Việt vương thần phục.  Đến bữa Triệu Đà cho ăn một món rau dưa trồng bên đất Thục, sứ giả lấy làm kinh ngạc tại sao Nam Việt lại có liên lạc xa đến thế, xuyên qua cả nước Dạ Lang ăn đến Ba Thục. . .( Wiens 138 ).  

Câu chuyện trên tỏ ra nước ta xưa đối với Tứ Xuyên gọi là ba Thục có rất nhiều liên hệ.  Ở thời Tiền sử thì Huyền thoại có chép Toại Nhơn, vị phát minh ra lửa cai trị thời Phục Hy, nên cũng ở Thục Sơn, Huyền sử nói ngài đi xuống đến Nam thùy, mà các học giả đoán là miền Vân Nam  và An Nam ( Wiens 61 ).

Đây là lần đầu tiên nhắc tới liên hệ giữa Thục Sơn và Việt Nam mà ta có thể hiểu là ngay thời ấy con dân của Toại Nhơn đã tiến đến Việt Nam ngày nay rồi.

Lần thứ hai là khi Thục An Dương Vương đánh lấy nước Văn Lang gồm vào với Ba Thục và cải tên là Âu Lạc.   Chỗ này cụ Trần trọng Kim theo ý kiến Khâm Định Việt Sử cho Thục chỉ là một họ nào gần Văn Lang hiểu gọn vào Bắc Kỳ mà không phải là Ba Thục bên Tàu, lấy lý lẽ rằng từ Ba Thục đến Bắc Việt đường quá xa.  Ví lúc ấy nhà Tần đã thôn tính xong Ba Thục rồi. . . 

Thưa rằng tại sao lại cứ hiểu Văn Lang  bó sát vào Bắc phần như vậy là đi ngược thời gian.   Ngay đến đời Triệu Đà mà Nam Việt còn nằm dài trên Lưỡng Quảng và toan lấy thêm Hồ Quảng ( Trường Sa ) huống chi nước Văn Lang phải hiểu bao gồm  vùng Kinh Man.

 Còn chuyện nhà Tần thôn tính Ba Thục không ngăn trở một dòng họ nào đó đến chiếm Văn Lang. Vì tiếng là Ba Thục kỳ thực thì có rất nhiều chi tộc, nên dù nước Tàu có chiếm được thì cũng còn tất nhiều họ độc lập, học giả Eberhard nói ở hai  vùng Ba và Thục có tới ngót trăm sắc dân. Vả lại đây chỉ là Huyền sử cốt để nói đến sự kiện xẩy ra nhiều lần đã có từ lối hơn ba ngàn năm trước như sẽ bàn trong đợt hai, không nhất thiết phải hiểu gọn vào một thời gian ở thế kỷ thứ ba trước dương lịch hoặc một  không gian rút gọn vào Bắc Việt.

Làm thế là óc Duy sử sẽ hiểu sai Huyền sử vì Huyền sử nói về Cơ cấu Văn hoá tức cái gì trường tồn thuộc hàng Dọc diễn tiến theo vòng tròn nên có thể trở lại nhiều lần, khác với Sử noi về sự kiện, biến cố hàng ngang thuộc thời gian bất khả phục hồi (évènement irréversible et horizontal ). 

Xin lấy một ví sụ trong sách “ Hùng vương sự tích ngọc phả cổ truyền “, do Trung tâm học liệu xuất bản, trang I chép rằng : “ Vua Kinh Dương Vương kính vâng ngọc chỉ, phụng mệnh trời về núi Nam Miên Sơn lập đô, về phía Hoan Châu, thuộc Nghệ An xứ.   Một hôm vua tuần du ngoài bể xem đồ cục của Sơn Thủy, không ngờ thuyền rồng đã thẳng tới hồ Động Đình. . .”

Nếu theo óc Duy sử thì sẽ vất cái bản văn trên, vì từ Nghệ An đến hồ Động Đình giang sơn cách trở có cả vạn cây số, làm sao đi thuyền để ngắm phong cảnh mà lại lạc vào Động Đình hồ cho được?   Thật quả là trái khoa học, vậy tại sao các cụ xưa tin y nguyên được?       Nhưng nếu tin theo lối Huyền sử thì chúng ta lại được thưởng thức một trang sách tuyệt khéo nói lên sử mệnh của nước Giao Chỉ đặt kinh đô ở Nghệ An.

 Chữ nghệ là Trời Đất giao thoa ( xem bài : Lễ vấn danh cô gái Việt trong Việt lý  tố nguyên )  chính nó cũng là hồ Động Đình (Đình : Đất; hồ: Trời ).   Vậy không nên hiểu Nghệ An theo nghĩa đen mà phải hiểu theo điệu “ An Thổ, đôn hồ nhân, cố năng ái “.  Đó là lối hiểu phải được áp dụng mỗi khi đi sâu vào vùng khuyết sử: càng ngược dòng thời gian, càng đi sâu vào Huyền sử thì càng phải thoát ra khỏi những điều kiện Thời Không, vì nó rất gần chất Huyền.   Thế mà Huyền sử quảng đại nhắc đến nhiều lần mối liên hệ giữa ta với Thục Sơn.  Thục Sơn là nước của Toại Nhân, Phụ Hy, Thần Nông. . .  Thế mà Toại Nhân đến Nam Thùy, rồi cháu ba đời Thần Nông xuống Ngũ Lĩnh, rồi Thục An Dương Vương xuống làm vua Âu Lạc. . .

Vì thế chúng ta có đủ lý do để nghĩ rằng đây là giai đoạn xuất hiện vật tổ Điểu: Hồng bàng. Vì điểu là vật biểu của Tiên cả hai cùng bay được, cùng ở trên núi, nên khi tu Tiên đắc đạo thì chữ Nho kêu là mọc cánh “ Vũ hóa “, mà biến ra con Hạc trắng, nên Hạc là chim, thuộc cõi Tiên.   Khi Âu Cơ đem 50 con lên núi Phong Châu ở Bạch Hạc thì phải hiểu Bạch Hạc về đó, khỏi cần lần mò về Phú Thọ, Núi cũng đi với Lửa.  Có nhiều lý do nhưng cụ thể hơn cả là ruộng, đồi núi, đốt rẫy, gieo hạt, nên sách Lĩnh Nam gọi là “đao canh hỏa nẫu “ ( Bạch trĩ truyện ), giáo sư Wiens ( 69 ) dịch là “ Fire field “.Hầu chắc vì vụ lửa này mà có tên nước là Xích Quỷ ( Xích: lửa ) tức Tổ tiên Việt xưa đã ở nước Thục di cư xuống đất Việt Nam, nên Huyền sử kêu là Toại Nhân xuống đến Nam Thùy.

II.- Việt Hùng

Giai đoạn haiViệt Hùng ở trên những Châu Kinh, Châu Dương, nên vua gọi là Kinh Dương Vương, tức vua hai châu Kinh và Dương, mà đời Xuân Thu gọi là Kinh Man, Kinh Sở, sau này là nước Sở.  Người nước Sở là giống dân nào ?   Đây là chỗ có rất nhiều ý kiến: như cho là Miêu tộc hoặc Hán tộc. . . , hoặc là Thái và học giả tranh luận để biết nhóm nào vào nước Tàu trước.   Xem ra ý kiến được đông người cho là  Cửu Lê là dân bản thổ. Các tài liệu Hán tộc có nói tới Cửu Lê chiếm cứ miền Lĩnh Nam, Hải Nam, Bắc Việt, và những Lê này cũng là Cửu lê thời xưa trước ở Kinh Sở, rồi lùi bước dần trước sức Nam tiến của Mán và Miêu.  Họ đại diện cho Thái tộc đã ở nước Sở.   Còn Miêu Mán làm chủ nước Sở về sau và có liên thuộc với người Miêu ngày nay ( Wiens 76 ). Cũng trong những trang này tác giả có đưa ra nhiều chủ trương chi tiết thí dụ Miêu chính là Mán trước kia. Miêu tản cư xuống Việt Tủy (Yueh Sui ). . .  Xin dành những chi tiết này cho nhà chuyên môn, còn chúng ta có thể cho đó là những lối đổi thay trong một nhóm lớn, trong nhóm đó có những đợt trước sau, với những tên khác nhau.   Nhưng tất cả có thể quy vào Viêm Đế, Thần Nông, y như phía Bắc xưng mình là con cháu Hoàng Đế.    Riêng về nước Sở thì có một điều coi được là đã định luận xong như giáo sư Wiens ghi nhận “ về nguồn gốc sử liệu thì nước Sở liên kết với Việt tộc cũng như với các dân tộc hai nước Ba và Thục, và tất cả xem ra là Thái, và trong số dân ở Sở  thì Thái nổi hơn cả “ Ch’u is constantly linked in historical sources with Yueh and the same time even more sources link Ch’u with the Pa people and Shu, all of whom appear to have been T’sai ( Wiens 80 ).   Đoạn văn này đặt căn bản cho mọi liên hệ từ Thục tới Sở, vẽ lại những quảng đường tiên Tổ đã qua.  Còn những người từ Thục tràn xuống Sở là Miêu, Mán, Việt hay Thái. . . không quan trọng cho vấn đề đang luận bàn ở đây vì tất cả chỉ là chi nhánh và có thể nói mọi ý kiến đều thật ít hoặc nhiều.  Chiều nào cũng không cải tiến được con đường tiên Tổ đã tiến là đi từ Tây xuống Đông Nam như đã phác họa trong Việt lý chương III.  

Tuy nhiên cũng cần biết ít nhiều về hai họ Thái và Việt. Thái cũng có tên là Chuang hay là Bách Việt trong đó có Âu Lạc, Lê, Liêu ( Lao ) Thổ,  Lư. . ., mà sử quen gọi chung là Man, Nam Man ( Wiens 272 ). Các nhà khảo cứu hay đồng hóa hai tên Việt Thái ( Wiens 101, 109 ).  Vì Thái có tên là Chuang, nên nhiều khi Việt cũng gọi là Chuang.

Xét về chính trị thì Thái nổi hơn bởi chống cự Hán tộc nhiều hơn, còn về Văn hoá thì Việt hơn, nên Thái hay bị đặt nuốt vào tên Việt. “: Although culturally lumped under the term Yueh “ ( Wiens 130 ).     Có lẽ ngày giỗ Tổ Hùng vương mồng 10 tháng 3 hiểu được là Tam Miêu và Bách Việt . Tam Miêu là tháng 3, còn Bách Việt là mồng 10. Mười là số chẵn có thể thay số chẵn trăm.    Hai ông Lăng Thuẫn Thanh và Nhuế Dật Phù cho là người Miêu đến sau chiếm chỗ của dân đến trước là Mán bị đánh bật ra khỏi vùng hồ Động Đình và Bà Dương Hồ ( Bành Lãi ), cũng có chỗ cho là Phiên Dương Hồ ).  Những dân Mán này có lẽ là Thái, cũng chính là Cửu lê đã một thời trở nên hùng mạnh nhất  trong đồng bằng Dương Tử.  Nẻo nào thì nước Sở cũng bao gồm nhiều sắc tộc.   Còn nổi bậc nhất về đàng chính trị thì có phải là dân Thái như Eickstedt chủ trương chăng thì còn cần phải đợi thêm lý chứng, đừng kể khi đồng hóa Việt với Thái, vì ông Eberhard cũng chứng minh rằng ngay tự xưa đã thấy dấu vết người Việt trong tất cả miền Nam sông Dương Tử, cũng như hướng về phía Đông Nam (  Wiens .70 ).

Tóm lại thì người Thái nằm trong khối Bách Việt ( Wiens 96 ).   Đặt tên giai đoạn này là Việt Hùng là do tích 50 con theo Mẹ lên núi, con trưởng làm vua hiệu là Hùng Vương, kéo dài 2621 năm. 

Trong quyển Forgotten tales of ancient China. Tr. 102 , ông Verne Dyson có nói tới hai lần Sở xưng Đế  năm 900 và 700 t.c.n. và nước Sở có thể bao gồm cả An Nam.

Truyện 50 con theo Mẹ lên núi, 50 con theo Cha xuống biển, có thể hiểu nhiều cách trong đó 50 con xuống biển là chỉ dân ưa chuộng nước, còn 50 con lên núi là dân đốt ruộng đồi.   Văn Lang gồm có hai loại đó “ both irrigation agriculture of the Thai or Chuang culture and the fire field agriculture of the hill tribes. ( Wiens 69 ).    Những dân ưa chuộng núi là Miêu và Dao rồi sau này họ sang miền Đông vùng sông Hoài, Sơn Đông, Chiết Giang. . . ( Wiens 69 ).

Một lối giải nghĩa khác là 50 theo Mẹ lên núi tức vùng Thục Sơn, còn 50 xuống biển hồ tức Động Đình.  Một lối giải nghĩa khác là 50 theo Mẹ lên núi tức vùng Thục Sơn, còn 50 xuống biển hồ tức Động Đình hồ, Bà Dương hồ, hoặc nữa lên núi Ngũ Lĩnh và biển Đông như Phúc Kiến.

Thực ra ở miền nào thì không phải là đối tượng của Huyền sử. Huyền sử chỉ nói là dầu sống trên núi như Miêu Dao hay dưới đồng bằng như Man, Việt, Thái thì đều bởi một gốc mà phát xuất.   Giai đoạn Việt Hùng này có thể chia hai, một gắn liền với Ba Thục mở rộng Việt Nho, còn phần sau sửa soạn đi vào Hán Nho.

Mở rộng Việt Nho bằng cái bọc Âu Cơ ( vòng Thái cực ), 50 con theo Mẹ lên núi là khẳng định lại vật Tổ tiên, nên nói Phong Châu, tức là miền núi, nơi ở của Tiên. Còn vật Tổ của chính giai đoạn hai này là nhận thêm vật tổ Rồng, nói rằng Kinh Dương Vương xuống thủy phủ cưới con gái vua Động Đình là Long Nữ sinh ra Sùng Lãm tức Lạc Long quân.

 Thế là ngoài yếu tố Lửa lại thêm yếu tố Nước. Sau Nhân ưa núi đến Trí ưa thủy

Để nối hai đức lại thì cần một đức thứ ba là Dũng là Hùng.  Hùng vương là đức thứ ba đó để hiện thực hai đức Trí và Nhân.  Và như vậy là xét về cơ cấu uyên nguyên thì Việt lý đã đặt xong nền móng thời Việt Hùng vậy.

Tóm lại các nhà nghiên cứu đều công nhận mối liên hệ  thâm sâu giữa Thục Sơn và Kinh Sở, trong nước này có nhiều sắc dân nhưng nhóm nổi nhất về Văn hoá này là Việt.  Chắc vì lý do sâu xa này mà Huyền sử nước ta được vận hành hầu trọn vẹn trong 18 đời Hùng vương, nên gọi giai đoạn này là Việt Hùng.

III.- Việt Chiết Giang

Sức đẩy từ phía Tây Bắc cứ mỗi ngày thêm mạnh, thì hai nhóm lớn làm nên nước Sở cũng phải Nam tiến dần. Thái thì đi về từ Quý Châu, Vân Nam, Dạ Lang, Nam Chiếu ( theo ông Từ Tùng Thạch  thì các dân vùng Tứ Xuyên Vân Nam, Quý Châu, Quảng Tây vẫn còn tế các thần coi ruộng nước chứng tỏ họ có liên hệ với dân xưa ở Ba Thục, và tỏ ra Văn hoá Thục Sơn lan rất rộng . Wiens 58 ).

 Còn Việt thì theo Mẹ lên núi Ngũ Lĩnh. Có hai lối hiểu Ngũ Lĩnh, một là chạy dài từ vùng sông Hoài trở xuống đến Quảng Đông Quảng Tây, Bắc Việt bao gồm các tỉnh Chiết Giang, Phúc Kiến, Lưỡng Quảng. . .và vẫn còn liên hệ chặt chẽ với vùng Động Đình hồ, mà ta có thể  coi là địa bàn của giai đoạn ba. Lối hiểu thứ hai phụ họa với lối trên về chiều cao tính từ biển lên đến Tây Tạng thì có 5 đợt:

Đợt nhất Quảng Đông cao 1500 bộ

                        Đợt nhì Quảng Tây cao 1500 – 3000 bộ

                        Đợt ba Quý Châu cao 3000 – 6500 bộ

                        Đợt bốn Vân Nam 4000 – 7000 bộ

                        Đợt năm Tibet 10.000 bộ ( Wiens ).

Hai lối biểu này không nghịch mà còn có thể bổ túc cho nhau. Nếu muốn xác định thì lối biểu hàng Dọc gọi là Nam Lĩnh, còn hàng Ngang lên cao gọi là Lĩnh Nam.

Lối biểu Lĩnh Nam ăn xuống Bắc phần thuộc chiều đi lên. Tuy nhiên hầu hết học giả còn rất lơ mơ về Lĩnh Nam nên ghi lại đây để có được ý niệm đại khái.  Xem ra dấu hiệu bên ngoài của giai đoạn này là tục vẽ mình, có lẽ đã khởi đầu từ Động Đình hồ gồm cà Ai lao, Nam Tứ Xuyên, Âu và Việt gặp thấy ở Chiết Giang, Đài Loan, Hải Vân ( Wiens 114 ).   Có nhiều nhóm  Thái không theo tục này như ở Vân Nam, Quý Châu ( Wiens 114 ).  

 Đây có thể là một dấu để các nhà nghiên cưu theo dõi lộ trình thiên di của mỗi chi nhánh

Mã Thiên tả dân Âu Việt  mạn Nam Chiết Giang ) vẽ vai và thân mình.  

 Dân Ngô nhuộm răng đen, vẽ trán, đầu trọc, dùng loại kim khâu to ( thick needle ).   Trong các lý do tại sao người Việt dễ hóa theo Tàu, người ta có thể kể đến việc người Việt sinh sống ở Lĩnh Nam giữ nhiều chức vụ quan trọng, thí dụ ông Dũng Hoạch Tăng đã làm quan lớn giúp cho vua Wu Hang nhà Chu.    Chỉ cần nhấn mạnh rằng Việt Chiết Giang cùng một dòng tộc với Thục Sơn và ăn liền với Kinh Sở.

Tại sao Huyền sử nước ta ít chú trọng đến giai đoạn này thì có thể đưa ra ba giải nghĩa.   

Trước hết vì đã đi vào Sử rồi, hai nữa vì thời này đã chịu quá nhiều ảnh hưởng Bắc phương, ba là rất nhiều người lập ra nước Việt Nam ở Bắc phần đã thiên di thẳng từ hồ Động Đình xuống đây mà không đi vòng qua lối Đông theo miệt đường Chiết Giang.   

Huyền sử chỉ nói đến Kinh Dương Vương gồm Giang Nam và Thái Hồ.   Thái Hồ nằm ở giữa cửa sông Dương Tử, vậy là ở vào vùng Chiết Giang.     Đây cũng chỉ là một tiêu điểm tạm thời vì bản đồ Cửu Châu cũng chỉ mới vẽ muộn vào đời nhà Chu.    Còn vua Kinh dương Vương xuất hiện trước cả hàng ngàn năm.   Dầu sao ta cũng có thể nghĩ rằng Châu Dương với người Việt  Chiết Giang không xa lạ nên có thể nói Sở, Ngô, Việt là anh em một nhà.

Việt Chiết Giang là một loại liên bang do Câu Tiễn cầm đầu, nổi lên vào thời Xuân Thu Chiến quốc cùng với hai nước Sở và Ngô  làm nên chân vạc phương Nam đã cùng Tàu đồng hóa nhiều và  thay nhau giữ ghế chủ tịch, trong đó nước Ngô chiếm đồng bằng Dương Tử ( * ), còn Việt thì trấn đóng từ Sơn Đông trở xuống qua Giang tô, An Huy, Giang Tây, Chiết Giang, Phúc Kiến, Hồ Nam, vùng Nam Lĩnh Nam xuống tới Bách Việt ( Wiens 114 ), một miền rộng lớn như vậy lại không co cuộc di cư nào vĩ đại mà tại sao tên Việt lại biến mất?

Các học giả cho là vì dân Việt ở mạn Bắc như Sơn Đông, Giang Tô, An Huy đã cùng Tàu đồng hoá rất sớm.  

Luận đoán như thế là căn cứ vào thói quen của người Tàu không nhắc nhở đến tên các ngoại tộc một khi họ đã mất tổ chức quốc gia?   Giải nghĩa như thế là rất đúng, vì cùng một sự kiện tương tự đã xẩy ra ở nhiều nơi khác nhau, thí dụ ở Hải Nam, Quảng Đông nằm trên con đường đi từ Bắc xuống Nam và vì thế từ thế kỷ thứ ba tr. d. l.  trở về sau người Tàu chỉ nói tới tên đất như  Sơn Đông, Giang Tô, An Huy, mà không nhắc tới  tên Việt tộc nữa ( Wiens 115 ) ( cũng phải nói như thế về Thục, Kinh, Sở sau này ).  

Vì thế ngày nay chỉ còn có những tên các thị tộc nhỏ như Chuang, Dao, Lê, Đản, Man  theo nghĩa hẹp. . . được nhắc đến vì một thiểu số các sắc dân đó vẫn còn sống trên núi rừng xa cách Văn minh, chí như khối lớn là Bắc Việt đã làm thành nhiều liên bang hết Sở, Ngô rồi đến Việt và đã từng làm chủ mạn Nam nước Tàu ( tức lối 2/3 Trung Hoa ), có một đoàn chiến thuyền lớn nhất lúc ấy đủ sức kiểm soát toàn bộ duyên hải Trung Hoa từ Bắc Kinh tới Cà Mâu ( * * ), cái sức mạnh lớn lao đó thì nay không còn được nhắc đến nữa. 

Sử gia thường chú ý đến nước Tàu từ Tần Hán về sau mà quên hẳn đi rằng trước đời Tần không có đế quốc Tàu nào cả, mà chỉ có nhiều nước nhỏ, vào lối thế kỷ VI Tr. c. n. là tứ cường: Tề, tần, Sở Việt trong đó có lúc Việt mạnh nhất.   

 Nhiều học giả cho rằng nếu không vướng nước Sở thì Việt cũng đã cùng cố xong liên bang an từ Chiết Giang qua Phúc Kiến, Quảng Đông tới Bắc phần.   

Năm 473 Việt đã diệt được Ngô và sáp nhập xong nước này ( miền Nam Dương Tử ). Ông Eickstedt nhận xét: nhiều học giả nói tới Trung Hoa  trước đời Trần Thủy Hoàng là nói về chuyện không tưởng, lúc ấy chỉ có đế quốc Thái ( tức Việt ). Giáo sư Wiens ( 129 ) cho câu đó là đúng sự thực và cần phải chân nhận một lần cho dứt khoát.  Sự thực đó giúp ta hiểu được là

Việt tộc đã mất dịp nắm lại chủ quyền trên toàn lãnh thổ chịu ảnh hưởng chữ Nho của mình.

( * ): Có học giả cho là phần đông người Thái nay sống ở Thượng Hải Nam Kinh. Trước kỷ nguyên họ mạnh đủ để đánh đuổi đoàn quân Hán sai xuống chinh phục họ vào năm 450.  Một học giả Quảng Tây sống vào năm 1172 đã viết về nhóm này và đưa ra 9 danh từ của họ thi thấy 3 thuộc Sơn, Việt, Thái ( Wiens 113 ), còn 3 chữ thuộc An Nam ( Wiens 112)

( * * ): Có lẽ vì lý do đó mà giai đoạn Chiết Giang kêu là “ Tam ngư “ ( Nhất điểu nhì xa, tam ngư tứ tượng ), xin ghi lại đây một chi tiết về cá , hoặc có liên hệ chăng ? “ Lối trang trí trên nóc là đặc biệt của vùng Chiết giang đất Việt Câu Tiễn .  Năm 194 B.C. lầu Poleang của Hán cháy.  Vua với một phù thủy Việt đến , người này nói: Dưới biển có một con cá đuôi rồng, một loài chim cú, lúc nổi sóng thì làm mưa xuống.  Từ đó người ta làm hình con cá trên nóc để khỏi cháy nhà.      Vậy lối trang trí trên nóc đền chùa của ta đã từ Chiết Giang lên Lạc Dương ở phương Bắc rồi lộn xuống Đông Dương ’’   Theo A. R. A. Stein kể lại trong tạp chí Sử Địa số 4 năm 1966 tr.93.

Thế nhưng sự không may đã xẩy đến cho liên bang Việt là các vua kế ngôi Câu Tiễn đã bất tài mà tham vọng lại quá lớn luôn luôn đi đánh phá các nước mạn Bắc như nước Đằng và năm 414 đánh nước Đàm, cả hai ở mạn Nam tỉnh Sơn Đông.  Kinh đô Việt trước đã được Câu Tiễn đặt ở Lang Gia gần Giao Châu ngày nay, không hiểu vì lý do gì mà vua sau dời lên kinh đô nước Ngô ở Giang Tây.  Việc thiên đô này gây rất nhiều bất hạnh đến nỗi y bị Chư Cữu ám sát năm 376.  Từ đấy trong triều luôn luôn bị rối loạn cho đến khi Vô Cương lên kế vị, tình thế tạm yên, thì lại đi đánh nước Tề để tranh quyền bá chủ trên các nước mạn Bắc cũng như mạn Đông.  Vua nước Tề  là Vệ đã kéo lại sự xung đột này sang nước Sở, thế là Việt phải kình địch thẳng với Sở, hai bên đánh nhau lâu ngày dằng dai không phân thắng bại.   

Cuối cùng khi quân Sở vây Từ Châu thì Vô Cương đến cứu không may bị tử trận, vì thế quân tan rã và Sở tình cờ mà thắng ( Maspero 331 ), rồi làm chủ  cả một vùng Giang Tô của nước Ngô xưa, còn quân của vua Cương rút lui về địa hạt nước Việt , và vì bất hòa nên phân ra nhiều nước nhỏ chịu phục quyền nước Sở.  

Thế là tất cả đồng bằng Dương Tử và Tứ Xuyên cho tới biển Đông nằm gọn trong tay nước này khiến dân Việt phải chạy tán loạn ra nhiều nơi mạn Nam sông Dương Tử gồm cả Quảng Tây  ( Wiens 127 ). 

Nhờ đó Sở trở nên mạnh nhất nước Tàu, năm 334 còn đủ khả năng đối địch với quân Tần phía Tây ( Wiens 127 ).   

Cuối cùng Sở lại để cho Tần làm một việc quen thuộc của Du mục là từ phía Tây tràn vào cai trị phía Đông Nam và nuốt luôn nước Việt vào khối Hán tộc.  

Nhưng trước khi bị nuốt trôi Việt hãy còn chống lại Tần Hoàng mạnh hơn bất cứ nơi nào dù nước Việt đã bị chia ra ba mảnh là Giao Châu, Quế Lâm, Tượng Quận ( xem bản đồ ??? ) , mà mãi đến năm 222 tr. c. n. Tần Thủy Hoàng vẫn thấy cần chinh phục Bách Việt một lần cho xong, nên Đồ Thư đưa 50 vạn quân chia ra 5 cánh tiến đánh. Phải đào một sông nối Hồ Nam với Tây Giang để tải quân lương.

Học giả từ Tùng Thạch cho như thế là dùng dao giết trâu để giết gà ( Wiens 132 ).   Có lẽ lối nhìn nhẹ Bách Việt này ảnh hưởng đến các nhà viết sử của ta, nên chẳng mấy ai để ý đến vụ này. Cụ Trần Trọng Kim chỉ viết vỏn vẹn có mấy dòng: “ Đến năm Đinh Hợi  ( 214 Tr. c. n. ) Tần Thủy Hoàng sai tướng Đồ Thư đem quân đi đánh lấy đất Bách Việt.  An Dương Vương cũng xin thần  phục nhà Tần. . ., người bản xứ đất Bách Việt không chịu để người Tàu cai trị trốn vào rừng ở, được ít lâu quân của Đồ Thư vốn là người phương Bắc không chịu được thủy thổ phải bị bệnh rất nhiều.   Bấy giờ người Bách Việt thừa thế nổi lên giết được Đồ Thư “     Sử chỉ viết có thế, không hề nói tới Đồ Thư có bao nhiêu quân và chết bao nhiêu.  Đọc xong ta có cảm tưởng một cuộc nổi dậy ăn may của người Việt ùa vào giết tướng giữa lúc ba đứa lính Tàu đang đi ỉa chảy!  Sự thực là Yeuh people. . . were too wise to come out in masses against the Ch’in. Instead, they retired to their forest and harassed the Ch’in armies. For three years those armies dare not loosen their armor or unstring their bows ( Wiens 133 ).  Người Việt quá khôn, đời nào dàn trận đánh quân Tần. Họ rút vào rừng để đánh tỉa, khiến cho suốt ba năm quân Tần không rời áo giáp, lương thực cạn dần, dân Việt mới xông lên. 

 Năm 214 quân Tàn đại bại, tướng Đồ Thư bị giết với hai chục vạn quân, máu chảy như nước. . . ( Wiens 133 ). Ít ra phải viết như vậy mới trùng với sự thực  là liên bang Bách Việt lớn lao hùng cường. Nêu không thế thì cần chi phải gởi tới 50 vạn quân, và nếu không mạnh thì làm sao giết nổi 20 vạn quân Tần.  

Sự kiện này không phải chỉ xẩy ra một lần mà sau này khi  quân Mông Cổ tràn xuống nước Nam, Thoát Hoan cũng phải chui vô ống đồng chạy trối chết.   

Cũng sẽ có người giải nghĩa sự chạy trốn này bằng dịch hạch.  

Nhưng nên nhớ quân Mông Cổ thua Việt Nam vào lúc họ đang mạnh nhất cũng như trước kia đã thắng quân Tần kia lúc nhà Tần còn mạnh nhất vậy

Sau khi Đồ Thư chết, Thủy Hoàng phải lập một cánh quân mới trao cho Nhâm Ngao thống lãnh. Ngao đã phải đánh nhau kịch liệt cuối cùng mới thắng nổi dân Việt.  

Vì thế mà Thủy Hoàng chưa dám chắc tâm, còn phải phái một nửa triệu lính làm ruộng xuống thực dân vùng Ngũ Lĩnh. . . chỉ sau đó Bắc phương mới đạt được quyền cai trị trên đất Việt ( Wiens ) chấm dứt giai đoạn tam Ngư của Việt Chiết Giang.

IV.- Nam Việt

Nhâm Ngao nhận thấy Nhị Đế nhà Tần không đủ khả năng nối nghiệp cha. Các dấu hiệu suy sụp đã tỏ lộ. Thế mà một thực tế chính trị Nam Việt đã hiện hình cần phải xây đắp không cho quân phản loạn tràn xuống.  Nhưng Nhâm Ngao quá già để hiện thực, trước lúc nhắm mắt, Nhâm Ngao đã kịp trối dự án lại cho Triệu Đà và Đà đã chấp nhận và hiện thực liền bằng cách khóa các đường giao thông chiến lược, loại trừ các phần tử quan lại nhà Tần có óc chống đối, gồm ba quận lại một làm thành Nam Việt, xưng là Vũ Vương. 

Đời Cao Tổ nhà Hán thì Triệu Đà chịu thần phục như một đường lối ngoại giao, chứ vẫn biết rằng thực quyền là do mình tự tạo chứ chẳng phải do vua nhà Hán nào ban cho.  Vì thế Đà cứ tiếp tục kiến thiết nước .

 Đời Cao Hậu ( 107 – 179 ), Triệu Đà lấy thêm nước Âu Lạc của Thục An Dương vương chia làm hai quận là Giao Chỉ và Cửu Chân.   

Khi Cao Hậu qua đời quyền bính chuyển sang quyền bà Lữ Hậu thì bà này tìm cách kìm bớt thế lực của Đà, cấm không bán cho Lĩnh Nam những dụng cụ bằng sắt, các giống vật như ngựa, trâu chỉ bán con đực mà thôi. 

Triệu Đà liền phản ứng tức khắc  bằng mùa Xuân năm 183 xua quân đánh chiếm một số quận của Trường Sa ( Hồ quảng ) và lên ngôi Hoàng đế.  Đó không phải là cử chỉ khoe mẻ rổng vì ông có hậu thuẩn mạnh của các tù trưởng người Chuang ( Thái, Việt ) ở Lĩnh Nam ( Wiens 135 ).

Năm 179 khi Văn Đế nhà Hán lên ngôi tìm cách dụ Triệu Đà trở lại thần phục, hàng năm cúng tế lại bỏ lệnh của Lữ Hậu rồi cho sửa sang mồ mả của dòng họ Triệu bên Bắc, hàng năm cúng tế lại còn cho mỗi anh em Triệu Đà vào kinh nhận tặng phẩm. 

Sau đó sai Lục Giả làm sứ đưa thư với những lời ân cần từ tốn kèm theo năm chục bộ áo bông làm quà tặng.  Với lối đối xử khéo léo của Lục Giả, Triệu Đà bằng lòng bỏ xưng đế rút quân khỏi Trường Sa và biên thư tạ lỗi.

Triệu Đà qua đời vào năm 137 thọ được 121 tuổi.   Đời ông có được hai điều lạ: một là sống lâu, hai nữa là ông hiện thực được sự dung hòa Văn hoá cũng như dòng máu Hán tộc với Văn hoá và dòng máu Việt tộc .

 Khi ông cắt đứt liên lạc với phương Bắc thì trong mọi hành vi cử chỉ đã tỏ đồng nhất với người Việt, lấy vợ Việt, sống theo thói tục Việt, cai trị theo lối Việt, đặt quan tước Việt  , và khi mở rộng bờ cõi thì tự xưng là đại Tù trưởng của các dân Man Di ( Wiens 136 ).

Trong gần  một trăm năm Nam Việt đứng riêng một nước, các vua kế tiếp lấy công chúa Việt và giữ thói tục Việt, nên người Việt trong ba quận đã được un đúc thành một khối Văn hoá vững chải và có bản sắc.   Vì thế mà hai tỉnh Quảng Đông Quảng Tây nay trở thành một khối Văn hoá biệt lập với tiếng nói và phong tục riêng ( Wiens 137 ).   

Triệu Đà quả có công với Nam Việt, vì lòng thành thật, chứ không phải Việt hóa cách bôi bác.  Bởi ông dùng người Việt vào các chức vụ lớn, nhờ thế đã được “ Bách Việt đáp ứng đứng dưới cờ “ ( Wiens 137 ).  Và dựng lên một nước mạnh đến nỗi làm ngạc nhiên sứ nhà Hán là Đường Mông, và có thể đó là hình ảnh cuối cùng của một nước Việt huyền bí xa xưa, nhưng hình như vận chưa đến lúc phát triển mạnh nên rồi Triệu Đà cũng như Câu Tiễn xưa không có người nối nghiệp đủ sức, nên đã không duy trì được cơ nghiệp.

Triệu Đà truyền ngôi cho cháu đích tôn là Triệu Việt vương trị vì được 12 năm.  Rồi đến Anh Tề lấy vợ Hán ( Cù Thị ) trị vì cũng 12 năm.    Đến đời Triệu Ai vương nhà Hán sai sứ dụ vua sáp nhập nước Nam vào Trung Quốc.  Ai vương và Cù Thị xin chị, quan Tể tướng là Lữ Gia can không được mới đem quân vào giết cả Ai Vương và sứ giả rồi tôn Kiến Đức lên làm vua.  Được một năm thì Vũ Đế nhà Hán sai Lỗ Bá Đức dẫn 5 đạo quân sang chiếm Nam Việt.  Và Đức đã thành công nhờ nội bộ Nam Việt chia rẽ.    Trong 5 đạo quân của Đức có tới 3 tướng Việt nội công lãnh đạo nên chỉ một năm là Nam Việt bị chiếm trọn vẹn. Ông Wiens viết: “ It was the division in the ranks of the T’ai people themselves that made possible “ ( Wiens 139 ).  Từ đấy Nam Việt cải tên là Giao Chỉ bộ chia ra 9 quận.  Nhưng các nhá ái quốc chưa chịu phục hẳn nên năm 40 dương lịch, hai chị em Trưng Trắc Trưng Nhị chổi dậy và được  ba quận Cửu Chân, Nhật Nam, Hợp Phố theo nên hai bà lập ra nước độc lập.  Mã Viện phải mất 3 năm mới dẹp xong.  Thế là chấm dứt giai đoạn cuối cùng của một Văn Lang đầy óc độc lập.

Còn lại ít chút chỉ là thiểu số những người Sơn Việt thuộc vùng An Huy, Giang Tô, Chiết Giang, Giang Tây, Phúc Kiến Hồ Nam thì đến sau thuộc về nước Ngô đời Tam quốc.

Ngô đã phải đánh trước sau 40 trận vừa lớn vừa nhỏ mới dẹp xong. 

Khi Tam quốc sụp đổ cũng như đến đời Nam Bắc triều còn rất nhiều dịp tốt cho Nam Việt chổi dậy, nhưng bao cuộc chổi dậy đều hỏng vì chính người Lĩnh Nam phá nhau và càng ngày càng bị chia nhỏ ra mãi cho tới đời Vũ Đế nhà  Đường ( 618 0 thì 9 quân chia thành 49 ấp, và nhiễm Văn hóa nhà Đường đến độ người Lĩnh Nam xưng là đường Nhơn như miền Bắc Tàu xưa xưng là Hán Nhơn vậy.    Có sự tan rã như vậy vì chia rẽ và chia rẽ vì đã để mất Đạo.

Cho nên nói cho rốt ráo  là tại mất Đạo! “Đạo mất trước, Nước mất sau “. Đó là sự thực xẩy ra với nước ta từ xưa rồi.

Thế là chấm tròn xuống dòng để thu hình gọn lại trong mảnh đất nhỏ xíu là cái nước Việt Nam hiện đại.  Đây là hậu duệ cuối cùng còn chút đất để sống mà làm chứng nhân cho một đoàn người đã thiết lập ra một nền Văn hoá nông nghiệp mạnh nhất trên thế giới còn truyền lại đến nay. 

Thế nhưng vì một sự rủi ro, nên đã để mối Đạo đó phụng sự cho đoàn người phương Bắc, rồi từ đấy mất ý thức nên phải thiên di và phân tán như miếng da lừa co lại, co lại mãi.

Vì mất Đạo mà ba nước Sở, Ngô, Việt tự tiêu diệt.  Ví mất Đạo mà Nam Việt tự chia rẽ và bao cuộc chổi dậy đều bị phá: Tự mình phá mình.  Và cho đến nay mối Đạo hầu không được người Việt săn sóc tới nữa, nên dầu chỉ còn lại mảnh đất cuối cùng nhưng về mặt Văn hoá đang chia năm sẻ bảy.

Có cách gì để xây lại nền thống nhất chăng?

Chúng tôi nghĩ rằng trong hiện tình đất nước ngoài Đạo đã xuất hiện với Tổ tiên xa xưa không còn nền móng nào khác. Cho nên muốn duy trì mảnh đất cho những người  Việt khỏi cái nạn “ sống lưu đày trên đất Tổ “ nghĩa là sống trên đất Tổ với tâm hồn vọng ngoại theo các ý hệ ngoại lai thì chỉ còn một cách chắc chắn nhất là làm phục hoạt nền đạo lý Tổ tiên đặng làm như sợi dây xỏ các kiến thức mới, những phát minh mới để gây lại nền thống nhất trong tâm hồn người Việt. Hễ nền thống nhất  đó gây lại được thì từ lúc ấy chúng ta không còn lo nạn ngoại xâm.  Ngoại chỉ có thể xâm khi chúng ta chia rẽ. 

Con đường tốt nhất để tránh chia rẽ là nhận thức trở lại mối thống nhất Văn hoá của Tổ tiên được biểu thị cách tuyệt khéo bằng cái bọc trăm con của Âu Cơ nghi mẫu.

V.- Năm bản đồ liên hệ

Coutesy of A.K.LOBECK.        Physiography of China

Southern China

The Three Kingdoms

Wei, Wu, Shu- Han

Map of Ling- Nan

The Three Departments

Of The CH’IN Period ( BC 234 – 206 )

Map of Ling-Nan

The Nine Depatments of The Han Period ( BC 140 – AD 220 )

During The Three Kingdom Period

Adopted from Hsu – Sung – Shih

By Herold  J. Wiens

A  map of Southern China

Ming Dynasty province.

B.- Nền tảng Triết lý

( Triết lý cái Đình: Phụ trương . Kim Định )

I.- Định nghĩa

Huyền sử chính là nền Minh triết của một dân tộc diễn tả bằng những mảnh vụn lịch sử của dân tộc ấy.   Thí dụ câu chuyện Đế Minh tuần thú phương Nam lấy Tiên trên Ngũ Lĩnh là một trang huyền sử nhằm diễn tả nền Minh triết nước ta nằm trong cơ cấu Ngũ hành gồm số 5 với hai số là 3 trời, 2 Đất cũng như Tam Tài và Lưỡng Nghi.

Đấy là những yếu tố căn bản, nhưng quá trừu tượng.  Bây giờ Huyền sử diễn tả bằng những nhân vật như Đế Minh lấy Vũ Tiên . . ..    Đó chỉ là những sơ nguyên tượng, vì thế nói  Đế Minh cháu 3 đời vua Thần Nông ( 3 Trời ) tuần thú phương Nam ( Theo Ngũ hành là số 2: 2 Đất ), đến Ngũ Lĩnh là Ngũ Hoàng cực của Hồng Phạm Cửu trù, tức Ngũ hành đã khai triển đến hết là số 9. Vũ Tiên cũng như Nữ Oa đại biểu Minh Triết ( sagesse ).  

Nữ Oa thường đi với số 5 như cầm cái quy ( có 5 điểm ) chế ra được cái sênh có 5 lỗ, nấu đá Ngũ hành. . .  Nữ Oa cũng như Vũ Tiên và Đế Minh không có y nguyên trong cá thể nhưng có trong công thể dân Việt nên gọi là mảnh vụn lịch sử.  Đó là những sự kiện có thực nhưng tản mát đó đây.     

Thí dụ có những người làm ruộng từ Dương Tử giang di cư xuống vùng Lĩnh Nam, rồi trong cuộc Nam tiến trường kỳ này có  rất nhiều trai Bắc lấy gái Nam.   Tuy nhiên sự việc đó không nằm dưới điều kiện không gian và thời gian, thí dụ không cần là cháu 3 đời, mà 7, 8 hay mấy chục đời, cũng như không cần lấy vợ Nam trên núi Ngũ Lĩnh mà việc trai Bắc lấy gái Nam xảy ra cùng khắp trên đường Nam tiến.  Vì thế câu chuyện Đế Minh không là Sử mà là Huyền Sử, Huyền Sử nói lên cái gì u linh phổ biến như nền Minh triết của Lạc Thư.

Như vậy Huyền Sử không còn một giá trị như Sử vì đã nhô đầu lê bình diện Tâm linh, nên giá trị của nó là nói lên cơ cấu sơ nguyên của một dân tộc.

Vì thế sơ nguyên không những theo nghĩa đã xảy ra ở buổi xa xưa nhưng nhất là theo nghĩa vĩnh cửu luôn luôn hiện diện. Bởi thế chính Huyền Sử mới làm nên chiều dọc của Lịch Sử, loại Lịch Sử mang theo ý nghĩa sâu xa nên thống nhất vì chở theo những yếu tố còn luôn luôn tác hành mà những sử gia Mỹ kêu là chức năng sử ( fonctionnalisme ) ngược lại với những sự kiện nằm phơi trải ra ngoài ( diffusionisme ) tương tự với cái tôi gọi là Duy Sử.   Với Duy Sử người ta chỉ thấy được những biến cố hiện hình ra trong không thời gian, phải với Huyền Sử người ta mới thấy được cái gì phổ biến bàng bạc bên ngoài những biến cố. Chính vì vậy mà Huyền Sử có tính chất hàm hồ u linh uyển chuyển. 

 Vì Huyền Sử thuộc đợt Tiềm thức chính là kho tàng của những chân lý phổ biến trướng tồn, luôn luôn lặp lại dưới những dạng thức khác

Chứ như Lịch Sử thuộc vùng ý thức, ghi lại những sự kiện những biến cố đã xảy ra trong một thời một nơi nêm có tính cách bất khả phục hồi và nằm trọn trong cá thể tính của nó: có một không hai, không thể có hai.”

II.- Tác giả Huyền Sử

“ Những sự kiện cá biệt đó chìm dần xuống vùng ký ức cộng thông của một dân một nước, lâu ngày trút bỏ những hoàn cảnh đặc thù, nên có khả năng biểu thị được những yếu tố tổng quát.  Lúc ấy nó mà xuất hiện thì ta có được Huyền Sử.

Vì thế tác giả của Huyền Sử chính là dân theo nghĩa rất rộng bao gồm tất cả mọi người trong một nhóm không chút phân biệt nào về dòng tộc hay học vấn.

Có thể nói Huyền Sử cũng như việc nằm mơ không cần phải có học mới biết mơ. Ai cũng có thể thì cũng vậy, ai cũng có thể làm tác giả Huyền Sử. Vì mơ với Huyền Sử cùng nằm trong vùng Tiềm thức, bởi vậy khi mơ ta thấy có những quyền năng phi thường như bay nhảy trên không hoặc  biến hình đổi dạng.

 Đấy là dấu ta bước vào Tiềm thức, một bình diện không còn tùng phục những diều kiện không thời gian nữa.    

Trong Kinh Thi bài “ Tư Can “ nói: “ mơ Gấu sinh Trai, mơ Rắn sinh Gái. . . “  ( THI II 937 ) thì đó là một thứ mơ rất gần Huyền Sử. 

Vì theo Huyền Sử thì trong số vật biểu nước ta có Rắn, và Văn hoá ta tôn trọng đàn bà ( xem Việt Lý Tố Nguyên bài văn minh Lệnh ), còn miền Bắc nhận vật Tổ thú như Hùm, Beo, Hổ, Báo, cho nên câu ca dao trên phản chiếu Huyền Sử của hai miền Bắc Nam.   

Điều đó chứng tỏ có mối liên hệ rất chặt chẽ  giữa Huyền sử và chiêm bao cũng như Ca dao.  Tuy nhiên  hiện nay khoa giải nghĩa chiêm bao cũng như phân tâm học còn quá mới chưa đủ sức xác định chiêm bao thứ nào thuộc Huyền Sử thư nào không.   

Nhưng nói chung là có những chiêm bao thuộc Huyền Sử nên kết luận được rằng tác giả đợt đầu của Huyền Sử là dân gian.  Và do đấy ta nhận ra Huyền Sử không những có nền tảng tâm lý rõ rệt mà còn có cả thời sự tính nữa.”

III.- Sự dị biệt giữa Thần thoại và Nhân thoại

Tôi gọi Huyền Sử là Nhân thoại, khác với Thần thoại ở vị trí con Người.  

Ở Thần thoại vai chính là Thần, con Người hoặc bằng bóng, hoặc có thì cũng rất tùy phụ hoặc như Promethée ăn trộm lửa hoặc như Pandore mở xem hộp đựng các tai ương để chúng tràn lan trên mặt đất.  

Ngược lại ở Nhân thoại thì con Người làm chủ: Bàn Cổ làm ra sấm chớp sông núi, Nữ Oa đội đá vá trời .  Chính vì thế mà tác động con Người mang tính Vũ trụ ( dimension cosmique ) với bóng dáng Người bao la của Tam Tài, của “ Tề Thiên Đại Thánh “, nghĩa là Thánh to ngang với Trời!   So với Promethée thì đã tiến bộ xa vời.  Cần nói ngay rằng không nên coi đó là những chuyện vu vơ bên ngoài Văn hoá, nhưng chính là nền móng Văn hoá của một dân, nó nói tiên tri về tính chất của nền Văn hoá có nó chỉ cần đọc mấy trang đầu lịch sử đã bấm mạch được tâm can tỳ phế của nền Văn hoá đó : Thí dụ biết ngay mẫu người tự cường hay thụ động, Nhân sinh quan hùng tráng dũng lược hay ủy mỵ bi quan.  Biết như thế rồi bây giờ chúng ta thư tìm hiểu về thời kỳ về thời kỳ xuất hiện của Thần thoại cũng như Nhân thoại.”

IV.- Thời kỳ xuất hiện của Huyền Sử

“ Trong thời kỳ duy lý, người ta cho rằng Thần thoại xuất hiện vào lúc con Người còn cổ sơ thô lỗ, nhưng đến nay các nhà nghiên cứu đều cho rằng Thần thoại xuất hiện vào thời đầu của nền

Văn hoá vào lúc tâm trạng con Người mới thức giấc khỏi trạng thái bất phân và Thần thoại là tác động sáng tạo đầu tiên của nó ( Declin 381 ).    Vì thế đó là một tác động làm bằng cảm xúc và sống thực hơn là suy tư hay là được công thức hóa ( le mythe est senti et vécu avant d’être intelligible et formulé, Mythe 11 ), vì thế ta có thể phân tích nội dung của câu truyện đặng ước đoán thời xuất hiện của nó. 

Nếu căn cứ theo đường vận hành của tâm thức con Người làm 3 đợt là Bái vật, Ý hệ và Tâm linh, thì ta có thể đặt Thần thoại giữa Bái vật và Ý hệ, vì đó là thời con Người rất yếu hèn, hoặc thời ma thuật để biết ăn trộm chút quyền hành.    Còn thời Huyền Sử thì con Người đã thung dung tự tại nên chỉ còn bên dưới có đợt Tâm linh, tức lúc không cần đến biểu tượng nào nữa.   Thí dụ khỏi cần cơ cấu Ngũ hành với Ngũ Hoàng cực mà chỉ với hai chữ ” Chí Thành “ là tóm thâu được tinh hoa của Thần thoại cũng như Nhân thoại.  

Đấy là chỗ cùng cực.  Chính Việt Nho đã đi qua thời Thần thoại, nhưng đi qua bằng vượt qua, còn ở Tây phương đi qua bằng gảy bỏ.    

Vượt qua Thần thoại bao hàm sự thâu thái tinh hoa của Thần thoại, còn gảy bỏ là nhị nguyên: chọn một bỏ một, chọn lý trí bỏ thần thoại.   Chính vì thế mà hiện nay đang có một cuộc quật ngược để trở lại với Thần thoại. “

V.- Hiện trạng vấn đề

“ Hiện nay ai đi vào làng Văn học Tây Âu cũng nhận ngay thấy sự đề cao Thần thoại, và sự học hỏi sưu  tầm thật vĩ đại đến nỗi hầu không mấy khoa Nhân văn là không bàn tới: Từ triết học qua phân tâm đến cơ cấu luận, dân chủng học. . .  Vì hiện nay người Âu Châu khởi đầu nhận ra Thần thoại chính là bảo tàng viện những giá trị nền tảng  ( Mythe 278 ), ( 1 ).   “ Le Mythe est le conservatoire des valeurs fondamentales “, nên là liều thuốc chữa chứng bệnh quá trừu tượng, vì Thần thoại là lối tư tưởng nhập thể chưa bị tách rời khỏi sự vật: Lời nói còn bám sát sự vật.  Le Mythe est pensée incarnée: non déprise de la chose, encore à demi incarné. Le mot adhère à la chose.      Vì thế trong dĩ vãng những dân hùng cường đều phải có Thần thoại. Âu Tây lấy làm khổ tâm vì thiếu vụ này  ( Gusdorf, MYthe 286 ).

Nói đúng hơn là Âu Tây đã vứt bỏ Thần thoại từ sau đời Socrate, và hiện nay vẫn còn đong đưa chưa biết chọn bên nào.   Entre deux maux dont on ne sait trop lequel est le moindre ( Gusdorf, Mythe 237 ).  

 Có bỏ Thần thoại thì khoa học mới tiến bộ, mà bỏ Thần thoại thì nước mất Hồn, lịch sử cũng như Văn hoá mất ý nhị  ( Mythe 247 ).  

 Đó là gọng kìm đang kẹp tâm thức người Âu Tây và họ đang cố gắng thoát ra.  Riêng chúng ta nếu biết trở về nguồn gốc thì sẽ tìm ta lối thoát thứ ba không bỏ mà cũng nhận, nhưng vượt lên trên bằng Nhân thoại.   Và chính trong ý hướng đó mà chúng ta quay về khám phá kho tang Huyền Sử của nước nhà.  Đó là 4 chặng Huyền Sử nước Nam là Việt Hồng, Việt Long, Việt Ngư, Việt Tượng (để cắm mấy tiêu điểm để có thể y cứ trong việc nghiên cứu về sau ).”

VI.- Việt Hồng

1.- Khu vực

“ Theo những lý chứng âm u rút ra từ Huyền Sử thì ta có thể ước đoán địa vực thời Việt Hồng nằm trong miền Thục Sơn.    Theo nhiều học giả hiện nay thì Thục Sơn là trung tâm đầu tiên của nền Văn hoá Nho Việt.    Điểm này hợp với điều đã nói trong Việt Lý Tố Nguyên ( Trang 53 ) là Miêu Tộc vào tàu trước nhất theo triền sông Dương Tử phát nguyên từ núi Dân Sơn trong miền Ba Thục, vì thế cần phải xem nó liền, vì mối liên hệ với nước ta thế nào, vì mối liên hệ có mật thiết thì Việt Nho mới có nền tảng.  Vậy theo Huyền Sử chúng ta nhận thấy ít ra 3 lần liên hệ như sau:

            a.- Lần thứ nhất gằn liền với Toại Nhơn thời biết dùng lửa.  Toại Nhơn cũng ở vùng Thục Sơn và Huyền Sử cho là ngài có xuống tới Nam Thùy mà các học giả đoàn là Vân Nam và Bắc Việt. Trong thực  chất có nghĩa là sự dùng lửa phát ra ở Thục Sơn rồi lan tràn xuống đến Việt Nam.

            b.- Lần thứ hai là lúc Đế Minh cháu 3 đời Thần Nông tuần thú phương Nam lấy Vũ Tiên trên núi Ngũ lĩnh. Thần Nông kỳ thuỷ cũng cư ngụ ở Thục Sơn hiểu là nghề nông đã được phát minh từ Thục Sơn rồi truyền bá xuống Việt Nam.

c.- Lần thứ baAn Dương vương người Ba Thục dành lấy nước Văn Lang gồm vào một số đất đai cũ của mình và cải tên là Âu Lạc. Đó là đại để 3 lần nhắc đến mối liên hệ giữa Thục Sơn và Việt Nam. Hễ cái gì phát minh ở  Thục Sơn thì cũng truyền đến Việt Nam liền: Lửa, Nông nghiệp, Quân sự, Văn hoá. . .Vì thế  có thể nói văn hoá Thục Sơn với Việt Nam là một.”

2.- Nội dung

“ Giai đoạn đầu tiên khai sáng văn minh này gọi là Việt Điểu hoặc Hồng Bàng. Ở lúc đầu rất có thể điểu là vật Tổ về sau tiến bộ thêm thì Vật Tổ biến ta Vật Biểu, tức làm biểu tượng cho Tiên, nên Tiên đi đôi với Chim, vì thế khi tu Tiên đắc đạo cũng gọi là “ mọc cánh “, chữ Nho kêu là  “ Vũ hoá “, nói kiểu bình dân là biến ra Hạc trắng nên Bạch Hạc được coi là chim cõi Tiên.

Có thể giai đoạn này manh nha ở thời Phục Hy và Nữ Oa, nhiều sách nói cả hai ông bà đều có họ Phong.  Phong là núi ở của Tiên và Chim.    Ta có thể ngờ rằng có mối liên hệ nào đó giữa giai đoạn Việt Điểu này với những hình người dắt lông chim thấy được trên một số trống Đồng, hoặc có liên hệ với Cửu Lê mà Huyền Sử nói là có cánh nhưng không biết bay, hoặc những thổ dân mang lộng chim bên Mỹ Châu như Astèque là dân có những yếu tố Văn minh chung với Viễn Đông như dao có hình chữ nhật và bán nguyệt  ( xem Việt Lý Tố Nguyên ( trang 46 ).

Khi sách nói: “Âu Cơ đưa 50 con lên núi Phong Châu ở Bạch Hạc “ thì nên hiểu theo Huyền Sử với ý nghĩa Phong Châu là Núi, còn Bạch Hạc là Chim, mà khỏi cần đưa trí khôn đến Phú Thọ.  Phú Thọ chỉ là nét tuỳ phụ sau mượn tên trước.   Trong Kinh Dịch quẻ Lữ nói đến Lửa trên núi ( hỏa sơn lữ ) thì có thể hiểu vào giai đoạn Toại Nhơn này, cũng như lối làm ruộng đốt rẫy mà Lĩnh Nam gọi là “đao canh hoa nậu “ ( giáo sư Wiens dịch là Fire Field ).  Hầu chắc vì những mối liên hệ đó với lửa mà có tên Xích Quỷ vì xích thuộc lửa.  Đây là giai đoạn đầu đi với vật  biểu như Chim, Núi, Lửa.  Sẽ tiến tới giai đoạn sau là Xà, Long, Hải, Thuỷ gọi là Việt Long.”

VII.- Việt Long

1.- Khu vực

“ Giai đoạn này vận hành tràn trên hai châu Kinh và châu Dương. Châu Kinh cũng gọi là Kinh Man sẽ mang tên nước Sở thời Xuân Thu. Còn trước đó là quê hương của tiên Tổ  ta xưa.

Huyền Sử ghi rằng con Đế Minh là Lộc Tục là vua phương Nam hiệu là Kinh Dương vương lấy Long Nữ đẻ ra lạc Long Quân. Lạc Long Quân lấy Âu Cơ đẻ ra Hùng Vương. Hùng Vương cai trị nước Văn Lang.  Như thế Hùng vương là con đẻ của Tiên Sơn Nhân, và Long Thuỷ Trí.   Hai đàng Nhân Trí giao thoa đẻ ra con rất Hùng Dũng nên lấy hiệu là Hùng Vương.   Còn chữ Kinh Dương Vương xác định bờ cõi Việt Long là hai châu Kinh Và Dương nằm dài trên bờ Dương Tử Giang có lần là biên cương của nước Kinh Sở hay Kinh Man.”

2.- Nội dung

“ Giáo sư Wiens ghi nhận “ về nguồn gốc sử liệu thì nước Sở vẫn liên kết  với Việt cũng như với các dân hai nước Ba và Thục “ ( Wiens 80 ).  Chính vì mối liên hệ mật thiết đó mà cả hai nước Việt và Sở xưa kia là một, nên Hùng vương nước Sở được dùng làm vua Huyền Sử nước Văn Lang. Chữ Văn Lang gồm hai nét Trời Đất giao hội ( xem Việt Lý  trang 364 ), ở đây là Tiên Rồng gặp nhau đẻ ra con Hùng Vương. Hùng Vương là đức Dũng sau Trí và Nhân.   Trí giả nhạo Thuỷ: Nên Lạc Long Quân ở Thuỷ phủ Nhân giả nhạo Sơn: Nên Âu Cơ đưa 50 con lên núi.  Như vậy xét về cơ cấu  uyên nguyên thì triết lý Việt Nho đặt cơ sở xong ở giai đoạn hai này gồm cả rồng thêm vào Tiên ở giai đoạn nhất. 

Nhờ đó đã gây nên được một thời hoàng kim quân bình kéo dài trên hai ngàn năm  với 18 đời Hùng Vương. Vì thế tiền nhân coi là Tổ thì phải hiểu là Văn Tổ tức Tổ trọn vẹn mà J. Legge dịch là Accomplished Ancestor, cai trị nước Văn Lang gồm 15 bộ trong đó có bộ Bình Văn. . .   Thời này sẽ dứt với nhà Thục mà ta không cần hiểu vào năm 257 – 208 mà chỉ ghi nhận sự sụp đổ của nước Văn Lang. Rồi Văn Lang cố phục hưng ở Văn minh Loa Thành. Nhưng rồi Loa Thành sụp đổ do việc Trọng Thuỷ từ phương Bắc đem óc xảo quyệt vào. Đấy là quảng mở ra giai đoạn sau là Việt Ngư và Việt Tượng.”

VIII.- Việt Ngư

1.- Khu vực

“ Giai đoạn này cũng được gọi là Việt Chiết Giang thu gọn vào châu Dương, còn châu Kinh thì đã mất rồi. Huyền Sử hầu không nói đến giai đoạn này bởi một là đã đi vào sử nhiều rồi, hai là phần lớn người làm ra nước Việt Nam đã đến từ miền châu Kinh.

Còn những người từ miền châu Dương hay Chiết Giang mà xuống thì vừa ít vừa đã qua giai đoạn quyết định cho nước Việt, nghĩa là nước Việt đã có thể chế của một quốc gia như ngôn ngữ và thói tục riêng.

 Lẽ thứ ba là lúc ấy Việt Nho đã bị Bắc phương biến chế và truyền bá ra rộng, nên ta có lý để gọi giai đoạn này là “ Tam Ngư “, tức giai đoạn chịu ảnh hưởng của Bắc phương thuộc hành Thuỷ quê quán của loài cá.”

2.- Nội dung

Gọi là cá vì lý do khác nữa đó là lúc Việt Chiết Giang giỏi nhất trong thủy chiến. Người ta nhận thấy vùng này có lối trang trí nóc nhà bằng hình con cá, về sau lan rộng lên Lạc Dương cũng như truyền xuống tới Việt Nam ( xem tạp chí Sử Địa số 4, 1968, tr. 93 ) , có lẽ đó là biểu hiện cho nước Việt thời “ Tam Ngư “ vì đã làm chúa tể suốt dọc miền duyên hải nước Tàu với đoàn chiến thuyền lớn nhất thế giới.  Lúc ấy chưa có đế quốc Trung Hoa mà chỉ có 4 nước là Tề, Tần, Sở, Việt trong đó có lúc Việt mạnh nhất. Thế nhưng sau thời Câu Tiễn thì hết vua tài.  Đến đời Vô Cương thì Việt thua nước Sở. Tuy nhiên sau này vẫn còn vùng vẫy nhiều lần nên đến Tần Thủy Hoàng phải phân ra 3 quận là Nam Hải, Tượng Quận và Quế Lâm. Tượng Quận mở sang giai đoạn 4 là Việt Tượng.”

IX.- Việt Tượng

1.- Khu vực

“ Có thể vì đó mà giai đoạn 4 được gọi là “ Tứ Tượng “ , hoặc nữa là thời nước Việt Nam mở rộng bờ cõi vào vùng có nhiều voi hoặc là  thời tiếp xúc với Văn minh Ấn Độ có đạo thờ thần voi là “ Ganesha “ là vị thánh quan thầy cho mọi thành tựu nên tất nhiên được sùng bái rất rộng ( Journal 268 ).

Đấy là gai đoạn Nam Việt với Triệu Đà một nhân vật có chân trong Huyền Sử  do vụ sai con là Trọng Thuỷ đi ăn cắp nỏ thần.”

2.- Nội dung

“ Đứng về Sử thì Triệu Đà có thể coi như cố gắng dẻo dai lập lại nước Văn Lang xưa, bởi không những Triệu Đà thiết lập được một nước có nhiều độc lập chính trị và nhất là về phương diện Văn hoá, vì trong mọi hành vi cử chỉ của ông đã từ bỏ lối Hán để tự đồng hóa với người Việt, cai trị theo lối Việt, đặt  quan chức toàn người Việt.  Và khi đã mở rộng bờ cõi thì tự xưng là đại Tù trưởng các dân Man Di ( Wiens 136 ).   Trong gần 100 năm Nam Việt đứng riêng một nước, các vua kế tiếp đều lấy công chúa Việt nên người Việt trong 3 quận được un đúc thành một khối vững mạnh có bản sắc riêng.  Xét thế thì Triệu Đà quả có lòng thành với nền Việt Nho nên được Bách Việt đáp ứng dưới cờ ( Wiens 137 ) và dựng lên một nước mạnh làm ngạc nhiên phương Bắc ( biểu lộ qua sứ giả Đường Mông ). 

Đó có thể là hình ảnh cuối cùng của một nước Việt Văn Lang huyền bí, nhưng hình như vẫn chưa đến lúc phát triển trở lại nên rồi Triệu Đà cũng như Câu Tiễn  xưa không có được người tài giỏi nối nghiệp khiến cơ đồ phải sụp đổ vào tay Hán tộc.

X.- Nền móng triết lý

“ Trở lên là tóm lược đại cương 4 chặng Huyền Sử nước Nam với 4 địa vực hết sức co dãn:

                                    Giai đoạn Việt Hồng là nước Ba Thục Việt Nam ( Chim Hồng: Việt Điểu )

                        Giai đoạn Việt Long là hai châu Kinh Dương Việt nam  ( Giao long , Xà long; Việt Long  )

                        Giai đoạn Việt Ngư hay là Chiết Giang Việt Nam  ( 1 ) ( Việt Long:Cá hoá Rồng của phương Bắc: Thủy )

                        Giai đoạn Việt Tượng  là Nam Hải, Tượng Quận Việt Nam.

Đó là những bờ cõi chập chững sồi sụt không có gì xác định, càng trở về xa xưa càng lu mờ hơn. Chúng tôi không có ý xác định cho bằng nhằm cắm hai mốc giới để tìm hiểu được nền văn minh của nó.  Đó mới là điểm then chốt.  Như trong đầu bài đã nói Huyền Sử một dân nói lên nền Minh Triết của dân ấy. Nền Minh Triết của nước Việt Nam cũng chính là nên Minh Triết của Kinh Dịch mà then chốt nằm trong 3 chữ “ Âm Dương hoà  “. Vì thế nên biểu tượng căn để của Kinh Dịch nói lên sự hoà đó bằng biểu tượng trong Âm có Dương cũng như trong Dương có Âm ( hình Thái cực viên đồ ).

Có nghĩa là khi nào Âm Dương hòa thì đạt Minh Triết và được hưng thịnh, còn khi Âm Dương chia lìa sa đoạ “ Thiên Địa bất giao nhi vạn vật bất hưng “

Đó là tóm tắt nền Minh Triết Kinh Dịch .    Nếu xét kỹ Huyền Sử nước ta đều hợp lực minh chứng chân lý trên.    Ở đây chỉ xin kể vài thí dụ:  Trước hết tên nước Văn Lang thì chính chữ Văn  (  )  đã nói lên hai nét Âm Dương giao hội ( Xem Việt Lý trang 337 ).

Thứ hai chữ Giao  (  ) Chỉ  cũng nói lên lòng mong ước cho chỉ Trời chỉ Đất giao thoa. Sau đó đến vật Tổ cũng nói lên một chân lý tức là Tiên Rồng.    Tiên đi sát Rồng nên ta quen nói “ Tiên Rồng “ nhập một và đó là nét đặc trưng của nước ta một nước duy nhất trên hoàn cầu có hai vật Tổ nối liền.

Đó là một điều quý trọng bết bao khi chúng ta biết rằng nhân loại đã đánh mất “ Nét Gấp Đôi “ tức trở nên con Người một chiều: hoặc Duy Vật hoặc Duy Tâm. Không hiểu nguyên uỷ xa xôi đã có từ khi nào, chỉ biết các nước trên thế giới chỉ có một vật Tổ: Nước Tàu là Rồng, Nhật: Mặt Trời, Pháp: Gà trống, Đức: Gấu, Hoa Kỳ: Phượng Hoàng. . có lẽ là đầu mối sa đọa.

Như thế nước nào có 2 vật Tổ nối liền thì cũng ngầm chỉ rằng nước đó có liều thuốc vạn năng để chữa bệnh thời đại của mình.  Đó là trường hợp vật Tổ của nước nhà. Hẳn tiền nhân đã nhận thức sâu xa điều đó, cho nên cả đến vật biểu cũng diễn tả chân lý nền móng kia như sau:  Chúng ta biết rằng Tiên có vật biểu là Chim, vật bay trên Trời ở trên Núi, còn Rồng có vật biểu là Nước là Thuỷ phủ, Sông hồ.   Thế mà hai vật biểu đó xoắn xuýt lấy nhau như hai vật Tổ Tiên Rồng. Tức cả hai đều nói lên nguyên lý nền tảng của Dịch lý là “ Âm trung hữu Dương căn  “ và “ Dương trung hữu Âm căn “  cho nên trong Chim có Nước, chữ Hồng ( ) trong Hồng Bàng có:  bộ thuỳ ( ) kếp bởi chữ Giang ( ) và chữ Điểu ( ), còn Rồng lại bao hàm Trời, nên Rồng tuy ở thuỷ phủ mà cũng thường bay trên Trời  nên quen vẽ Rồng với Mây gọi là “ Long vân “ cho hạp câu quẻ Kiền  “ Long phi tại Thiên “.   Chính nhờ sự giao thoa xoắn xuýt này mà nước Văn Lang kéo dài 2000 năm.  

Đến các giai đoạn Âm Dương chia ly nên nước chỉ kéo dài chừng  50  năm như những giai đoạn quốc hiệu Âu Lạc, Giao Chỉ.  Và ở những giai đoạn này danh hiệu chỉ còn là sự mong ước cho Âm Dương giao hội chứ trong thực tế thì Âm Dương đã phân ly.

Thí dụ ở giai đoạn “ Tam Ngư “  thí cá sẽ không còn giao hội với Trời như Rồng, tức là không còn biết bay lên, vì cho được bay thì Cá phải hoá Long, đàng này Cá lại hoá Tinh để đốc ra Thuỷ Tinh chống lại với Sơn Tinh tượng Trời, vì thế Tam Ngư bị Lạc Long Quân tiêu diệt.   Đến giai đoạn “ Tứ Tượng “ lại xuống bậc nữa vì tượng không còn hiểu là tượng linh mà hiểu  là tượng voi, thế thì còn sa đoạ hơn, vì Cá tuy không biết bay nhưng còn hơn voi ở chỗ có môi trường lung linh uyển chuyển, nên còn trông có ngày hoá long, đàng này môi trường của voi là rừng cây, nên sẽ biến ra Mộc Tinh đặt trọn vẹn 4 chân trong cõi hiện tượng chỉ còn biết có ích dụng thô đại:

“ Cài vòi đi trước

                        Hai chân trước đi trước

                        Hai chân sau đi sau ”.

Nghĩa là cục mịch như thơ quan võ.   Vì thế ai dám tâu voi chung với đức ông (Ông Hán hoặc ông Tây) thì chỉ còn kiếp “ vừa phải đánh cồng vừa phải hốt phân”.  Đánh cồng thì phải tha những ý hệ ngoại lai về  mà hò la reo rắc, hoá cho nên nước trở nên thối tha tham nhũng chẳng biết bao giờ mới hốt đi cho xong. 

Xa biết bao với thời của “ Non Nước Tiên Rồng “đoàn tụ.  Từ ngày bước vào đợt Tượng, tuy con Việt Điểu đã mấy lần toan vỗ cánh tung bay qua hồn các bà Trưng bà Triệu. . . , nhưng giáo sư Wiens nhận xét “ bao cuộc chổi dậy đều hỏng vì người  Lĩnh Nam tự phá nhau “ . Thế là đi đời cái nước Văn Lang man mác với nền Văn hoá uyển chuyển giữa hai chỉ Âm Dương giao hợp, một thứ Văn minh rất cân đối mà nhiều người mong ước tìm lại được đặng chữa “ bệnh  một chiều “ hiện nay .

Liệu có làm nổi chăng ?  Nhìn lại cổ sử nước nhà  ta thấy 4 chặng khác nhau tượng trưng bằng 4 vật linh : Long , Ly, Quy, Phượng.    Long Ly là trục dọc Bắc Nam, Quy Phượng là trục ngang Đông Tây.  Cả 4 chặng đều vận hành trong vòng “ sinh sinh  đại diễn “ ( Nguyên, Hanh, Lợi, Trinh ). Ngược lại 4 chặng: “Điểu, Xà, Ngư, Tượng “ thì chỉ đúng được có 2 chặng đầu , còn hai chặng sau đi vào vòng “ sinh diệt: Thành, Thịnh, Suy, Huỷ “:

                        Thành ở Việt Hồng ( Điểu )

                        Thịnh nở Việt Long ( Giao long, Xà long )

                        Suy ở Tam Ngư ( Ngư thuộc Thủy: Bắc phương )

                        Huỷ ở Tứ Tượng. ( Voi )

Ta hỏi tại đâu lại có sự trật đường tai hại như thế thì câu thưa hiện lên rõ rệt là do phía Tây Bắc.   Vì trong thực tế trục Quy Phượng đã bắt đầu hiện lên  trong vòm trời Việt Nam.  Quy là thần Kim Quy cho An Dương Vương nỏ thần, còn Phượng đi với Mỵ Châu lúc mang trong mình bộ áo lông chim. Thế nhưng bởị Văn minh Tây Bắc mà đại diện là Thục An Dương vương và Trọng Thuỷ phá hoại lái sang quỷ đạo của vòng “ sinh diệt “ cũng mang trên mình bộ áo lông chim. Thế nhưng bị Văn minh Tây Bắc mà đại diện là Thục An Dương Vương và Trọng Thuỷ phá hoại lái sang quỷ đạo của vòng “ sinh diệt “, cho nên Loa Thành sụp đổ, An Dương Vương bị Kim Quy trả lại cho Tây, còn Mỵ Châu trả lại cho Bắc là hoá ra giếng nước chứa xác Trọng Thuỷ.

Làm thế nào cho Mỵ Châu phục sinh, cho văn minh nước nhà trở lại vòng sinh sinh là “ Quy Phượng “ ?  Đấy là sứ mạng của Văn hiến. Liệu nước ta có tìm đủ số văn hiến cần thiết để hiện thực sứ mạng đó cùng chăng ?

Sự trùng hợp này cần được nhấn mạnh vì thứ tự Điểu Long không bị ảnh hưởng do câu “ Nhất Điểu, nhì Xà  “ mà là do cảm nghĩ khi nghiên cứu.  Vì thế nên trùng hợp với câu trên thì chỉ là  sự ngẫu nhiên.  Và sau đó tôi mới đổi tên hai đợt sau Việt Chiết Giang ra “ Tam Ngư “ và Nam Việt ra “ Tứ Tượng “.

Thứ tự sau này có tính cách vũ trụ, trong đó Điểu biểu thị Trời, Ngư biểu thị Nước (Đất ).   Nếu đem áp dụng vào quá trình hình thành nền Văn hoá nước ta thì lúc ấy “ Nhì Ngư “ sẽ là giai đoạn Văn hoá Viêm Việt  tiến lên mạn Bắc nước Tàu mà sách xưa đã nói phận dã nước Việt là hai sao Ngưu Nữ ( cả hai đều ở phương Bắc ), còn nhân vật tượng trưng sinh quán ở Bắc sẽ là Đế Lai và Âu Cơ nghi mẫu. Còn Tam Xà là Lạc Long Quân hay Hùng Vương là con đẻ của Non Nhân ( Nhất Điểu ) Nước Trí ( Nhì Ngư ).

 Chiều nào cũng nói lên cái tinh hoa Kinh Dịch được Huyền Sử Việt Nam thâu hoá sâu hơn Huyền Sử nước Tàu.   Còn việc thay đổi thứ tự ( Nhì   Xà hay Nhì Ngư ) được phép vì tính chất co dãn của linh tượng như đã trình bày trong quyển ” Loa Thành đồ thuyết ”, nhờ đó dùng linh tượng hợp cho việc phác họa ra cơ cấu uyên nguyên của nền Văn hoá nước nhà  được hết sức uyển chuyển và thi vị.

( 1 ): Vật biểu không còn là vật Tổ, mà chỉ là biểu thị cho vật Tổ khác. Vậy Chim có thể là một thời là vật Tổ nước ta. Nhưng khi tâm thức tiến đến chỗ nhận Tiên làm vật Tổ thì Chim trở thành vật biểu để chỉ thị Tiên, nên vai trò cả hai giống nhau.

Trả lời

Điền thông tin vào ô dưới đây hoặc nhấn vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất /  Thay đổi )

Google photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google Đăng xuất /  Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất /  Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất /  Thay đổi )

Connecting to %s