Chu kỳ Tiên thiên của Kinh Dịch

( Kim Định )

“ Vì Huyền sử nước ta đã trải qua nhiều giai đoạn được ghi theo chu kỳ Tiên thiên của Kinh Dịch là: Nguyên, Hanh, Lợi, Trinh, được trình bày theo vòng 4 mùa như sau :

Hạ: Hanh

Xuân: Nguyên Thu:Lợi

Đông:Trinh

Nguyên là thời manh nha, nó hợp với mùa Xuân. Đời nhà Tiền Lý ( 544 – 604 ) nước ta gọi là Vạn Xuân, có lẽ là để kỷ niệm thời sơ nguyên này. Đây là thời Hồng Bàng thị với Vật tổ Chim của Việt Nam, vì trong Nguyệt lệnh thì phương Nam mục trùng là Vũ, chỉ các loại Chim. Loại quẻ Khôn vi Văn, “ Khôn vi Văn 坤 為 文 ” ( Thuyết quái ). Vì thế, khi nói tới Văn Lang hay Hồng Bàng, thì ta thường chỉ thị bằng Chim, bằng Tiên nữ, bao gồm cả Mẹ lẫn Chim.

Câu nói : nhất Điểu, nhì Xà, tam Ngư, tứ Tượng thường được giải nghĩa theo lượng tức vật to lớn nhất là chim, nhì là rắn . . . , nhưng đó là điều không thấy xẩy ra, dầu là giống cổ điểu Epiornis, nay đã biến mất và người ta tìm được dấu vết ở Madagasca, trứng to hơn trứng gà 150 lần. Vậy nếu căn cứ vào đó mà nói, nó to hơn con gà 150 lần, thì cũng mới nặng từ một tấn trở lại, còn lâu lắm mới bằng con cá voi, nặng cả từng chục tấn. Cho nên câu nói trên của người Việt Nam nên hiểu theo nghĩa bóng, chỉ bốn giai đoạn mà nước Việt Nam cổ đại đã trải qua là:

Điểu, Long, Ngư, Tượng

a.- Nhất Điểu

Giai đoạn nhất là Điểu cũng là Văn minh Mẹ, nên ta thấy những cử chỉ gán cho Mẹ thì cũng gán cho Chim , nếu Mẹ Nữ Oa đội đá vá trời, thì Chim cũng đội đá vá trời, Chim cũng ngậm hòn lấp bể . . . , và nếu sâu quá lấp không xuể, như his Ngân Hà, thì bắc cầu “ Ô thước ” . Vậy chim là giai đoạn hoàn toàn Mẹ giai đoạn của Điểu đi trước giai đoạn Rồng thuộc Vật tổ Thú, nên nói nhất Điểu nhì Xà.

b.- Nhì Xà ( Long )

Xà là long, long là giai đoạn hai hay nói theo Kinh Dịch là Hanh sau Nguyên.

Hanh thuộc mùa Hạ , khi mặt trời phương Nam trút xuống những tia nắng chói, nên nước đặt tên là Nhật Nam, là Xích Quỷ. Hanh là Hanh thông, tức là thời Sơn Tinh và Thuỷ Tinh còn kết nghĩa, và Ngư chưa thành Ngư Tinh ăn thịt người, nên Nam Bắc giao thông không gì ngãng trở. Huyền sử chỉ bằng Đế Minh ( Bắc ) lấy Vụ Tiên ( Nam ). Lạc Long quân ( Nam ) lấy Âu Cơ ( Bắc ) . Lúc ấy chưa xẩy ra truyện Âu Cơ về thăm quê Tổ, bị Hoàng Đế ngãng đường. Hoàng Đế đại biểu phương Bắc là thuộc hành Thuỷ. Thuỷ là nơi sinh sống của cá, nên khi nói Ngư Tinh hay là Thuỷ tộc, thì đều chỉ Văn minh Du mục phương Bắc. Như vậy nói giai đoạn Ngư là nói đến sự ngự trị của tinh thần Du mục phương Bắc, chủ lợi, thuộc giai đoạn Lợi đến sau Nguyên và Hanh.

Lợi mùa Thu. Lợi trong chu kỳ Tiên thiên kêu là Mỹ Lợi, quẻ Kiền, nhưng nói đến Lợi là rất dễ đâm his lợi. Vì tư lợi, nên Hoàng Đế ngăn không cho Âu Cơ về Bắc, vì tư lợi, nên Trọng Thuỷ đánh tráo vuốt rùa. Vì thế Văn minh phương Nam còn cầm cự được là phải có đức Dũng cùng cực gọi là Hùng vương, thì có nghĩa là cần một tinh thần can đảm phi thường, vì thế tiền nhân ta nói về ngày mồng 9 tháng 9 (trùng cửu ) bằng câu nói “ Trùng cửu đăng cao ”, thì nghĩa đen là chỉ lúc cao nhất trong mùa Thu, còn ý sâu xa là tinh thần Bất khuất của Lạc Long quân đã dám cầm khối sắt nung đỏ ( tinh thần quẻ Ly phương Nam ) ném vào miệng Ngư Tinh : chống Văn minh Du mục, để duy trì Văn hoá phương Nam. Nhờ đó mà Văn hoá phương Nam vẫn còn sống được và nội dung là sự hoà hợp Thuỷ / Hoả, Mộc / Kim được gởi vào một số truyện Huyền sử như việc thi gia chánh của Hùng vương với giải thưởng dành cho đôi bánh Dầy, bánh Chưng, cũng như trong chuyện Chử Đồng tử kết hôn với công chúa Tiên Dung, đều nói lên tinh thần Dân chủ không phân giai cấp của Việt tộc, như tất cả đều hoà hợp trong một phẩm trật đẹp đẽ như truyện Trầu Cau : Kim, Mộc và Hoả đồng làm nên màu đỏ của nước Xích Quỷ.

c.- Tam Ngư

Tuy nhiên, sức người có hạn, bé tí hon, chống khổng lồ mãi cũng có ngày thua và phải đành bước vào giai đoạn “ Tam Ngư ”, tức là giai đoạn đen tối, mà các nhà Huyền sử Tây phương nói đến là thời cá ( Poisson ) xảy ra vào quảng vài ba thế kỷ trước kỷ nguyên. Cũng như giai đoạn sắp tới thuộc cung Verseau ( xem chẳng hạn La nouvelle culture de l’ère du Verseau, par M. Konstantinov. Courier du livre Paris ). Vậy giai đoạn này đối với nước ta là lúc Triệu Đà khai quốc và dọn đường cho sự ngự trị của Hán tộc, là cái học nhiễm óc chuyên chế . . . , của Văn minh Du mục Bắc phương.

d.- Tứ Tượng

Hán học nối tiếp sang giai đoạn thứ tư là Tượng. Tượng là giai đoạn nước ta lấy lại được nền độc lập chính trị để tiến vào các miền theo Văn minh của Tượng như Chân Lạp, Chiêm Thảnh ( Chàm ), là những miền lắm voi. Đấy là giai đoạn mở mang nước về phía cùng cực Nam và tương đối độc lập về chính trị. Nhưng về Văn hoá thì còn nằm hầu trọn vẹn trong tinh thần Ngư Tinh của của Hán Nho, nên đã mất ý thức về nền Văn hoá của dân tộc, đến nỗi ngày nay không ai còn đọc được tờ “ Bằng khoán cơ nghiệp ” Tổ tiên giối lại, vì chỉ biết có chữ Hán , mà không biết chữ Nho.

Hán Nho chỉ chuyên môn chỉ giải từng chữ nên không thấy “ vi ngôn đại nghĩa ”, nên cũng như cái nỏ giả của Trọng Thuỷ , không cứu được nước. Chỉ có lối học theo Việt Nho nhìn toàn diện mới đọc ra được Đại Đạo. Tuy nhiên Đại Đạo đó vẫn còn tàng ẩn trong trong Tiềm thức dân tộc nên đã nhiều lần cứu được nước, đến nỗi ta có thể nói không một nước nào trong cõi Viễn Đông lại mang đậm màu sắc Kinh Dịch cho bằng Việt Nam.”

5.- 64 quẻ Dịch: 64 nét Giao chỉ : 64 con dấu của Việt tộc

“ Hãy nói từ Quốc hiệu trở đi : Xích Quỷ, Văn Lang, Giao Chỉ. Đã bàn rộng trong bài : “ Lễ vấn danh trong Việt lý “. Ở đây chỉ xin nhắc tới danh hiệu Giao Chỉ là hai nét lớn : “ Chỉ ” Âm Dương giao hội : quẻ Ngoại giao với quẻ Nội. Kinh Dịch có 64, là 64 chữ giao chỉ khác, tức cũng là 64 con dấu của Việt tộc đóng. Vì lẽ đó , Việt Nam rất đáng kêu là “ Văn Hiến chi bang. Văn dây phải hiểu là nét Gấp đôi uyên nguyên, tức là Đất Trời giao hội, và nền Văn hoá lên cao nhất là khi ở đâu không đánh mất nét Gấp đôi ( Pli en deux ).

Con người ngày nay vong Thân là tại đã đánh mất ý thức về nét Gấp đôi và sa đoạ vào cõi người ta chỉ thấy có một chiều đồng nhất. Chiều duy nhất đó là vụ Lợi, là thành Công, là lấy Công. Đây là sa đoạ, không phải là Văn hiến. Văn hiến cũng đi cấy, vì thuộc Nông nghiệp, nhưng Văn hiến nói rằng :

Người ta đi cấy lấy Công

Tôi đây đi cấy còn trông nhiều Bề

Tôi đi cấy cũng lấy công, nhưng công mới chỉ là một, còn ba bề nữa là : Trời, Đất, Người mà để đạt được thì phải có Tâm, nên nói :

Chữ Tâm kia mới bằng ba chữ Tài

Với chữ Tài, chữ Lợi, chữ Lấy Công, thì chỉ cần Lý trí, còn Thành Nhân thì phải kiêm cả Đạo Trời Đạo Đất như hai hạn từ nòng cốt làm nên con Người viên mãn như thập tự nhai là thứ cũng toả ra nhiều bề : cả Đông, Tây, Nam, Bắc, nghĩa là Thần, vì Thần vô phương, nên không đâu không ở, rất linh nghiệm, nên người nào cảm nghiệm được thì hy hiến toàn thân cho cái Văn đó, nên gọi là Văn hiến. Và nước có nhiều Văn hiến, thì gọi là “ Văn hiến chi bang « 

Ở thời xa xưa, dưới những triều đại của Hùng vương có bóng dịu hiền của Mẹ Âu Cơ, thì Việt Nam đã có nhiều Văn Hiến, nên cũng đáng tên là Văn hiến chi bang. Đến nay, nhiều nhà duy Sử đang cố phủ định nước Văn Lang. Bởi chưng :

Người ta đi cấy lấy Công .

Chúng ta đi học, cũng chỉ trông kiếm Tiền

Vì đã hết rồi cái thời “ cái học : trông Trời, trông Đất, trông Mây ”. Cái học biến thông của Lạc Thư, sách gối đầu giường của Tiên Tổ Lạc Việt, nhưng đến nay hỏi còn mấy ai biết ý nghĩa ra sao nữa ?

6.- Nơi cất dấu Ngọc Long Toại

Tuy bị cướp đoạt, nhưng Ngọc Long Toại vẫn còn được Tổ tiên cất dấu ở phương Nam

Huyền sử nói : “ Vì Giếng bị bỏ hoang bẩn thỉu( xem Truyện Việt tỉnh ). Truyện kể về “ Thôi Vỹ được Ma Cô Tiên đền ơn đã chuộc tội, nên Tiên cho một hạt ngọc Long Toại, nói đó là Ngọc châu từ thuở Trời Đất mới khai tịch đã có một cặp Trống / Mái, từ đời Hoàng Đế trải đến đời Ân, truyền làm thế bảo. Trong trận đánh Trâu Sơn, Ân vương bị Phù Đổng Thiên vương giết, nên đeo nó mà chết, Ngọc châu cũng chôn trong đất, mà tia sáng chiếu thẳng lên Trời. Đời nhà Tần, binh hoả liên miên, những vật trân bảo bị đốt cháy, các nhà Vọng khí đều biết hòn Ngọc Long Toại còn ở phương Nam. Người Tàu đem vàng bạc, gấm vóc trị giá trăm, vạn để tìm mua. Vỹ nhân đấy đại phú. Sau Ma Cô Tiên rước Vợ Chồng Thôi Vỹ đi, không biết đi đâu. Nay Giếng bỏ hoang bẩn thỉu, Hang thì còn ở núi Trâu Sơn. Người Việt gọi là Việt Tỉnh cương vậy. «  ( Lĩnh Nam ).

Đọc truyện, chúng ta được chứng kiến một trang Huyền sử tuyệt đẹp : Thôi là lớn lao, Vỹ cũng là lớn lao, nhưng tự dạng gợi nên cái gì tế vi, nên Thôi Vỹ có nghĩa là người biết đặt quan trọng vào cái tế vi, cái vi ngôn đại nghĩa, mà vi ngôn đại nghĩa lớn nhất là “Âm Dương hoà ” kết thành Thái Cực viên đồ, đã xuất hiện từ khi Trời Đất khai tịch, đã có một cặp Trống Mái gọi là Long Toại. Chữ Toại có nghĩa là khoan cây lấy lửa, nhắc lại thời Toại Nhân, phát minh ra lửa. Còn Long là thuộc về Lạc Long quân, Vua Viêm tộc.

Nhưng đến lúc Hoàng Đế vào xâm lăng thì chiếm luôn cả Kinh Dịch truyền cho đến đời Ân. Nhà Ân nửa trước kêu là nhà Thương là một nhà thấm nhuần Văn hoá Nông nghiệp cao độ nhất, nên Huyền sử nói vua Thành Thang nhà Thương có bệnh “ tê hết nửa mình ” :

Thang bán thể khô : ( Dances 55 ).

Trong danh từ Huyền sử thì câu đó có nghĩa là “ thể nghiệm được Đạo Âm Dương Dịch lý ”, nên có Lưỡng nghi tính, vừa thích nghi với vòng Ngoài thế sự vừa thích nghi với vòng Trong Đại Ngã Tâm Linh, nên nói bóng là bán thân bất toại, mà thực nghĩa là nhà Thương Ân đã trở nên cùng dòng với nền Văn hoá Viêm tộc .( Xem Việt Điện trang 57 ) .

Nhà Thương bị nhà Chu diệt nhưng chôn vùi bên phương Nam, mà nước tiêu biểu nhất là Việt Nam. Còn bên kia thì mất, về sau có người tên là Khổng Tử, dòng tộc nhà Thương Ân nước Tống cứu vớt được một phần Đạo lý ghi lại trong Kinh Điển. Vì thế tuy sống ở mạn Bắc, nhưng lòng Khổng Tử vẫn hướng về phương Nam, lấy làm nơi an trụ : “ Nam phương chi cường dã, quân tử cư chi ” ( T.D. ).

Nam phương chi cường ” cũng gọi là Hùng vương. Và Vua nhà Ân đã chết chôn ở đất Việt, như ngọc Long Toại cũng nằm trên đất vua Hùng vương thứ ba. Nghĩa là trọn vẹn đạo Dịch gồm Tam Tài, Ngũ Hành : 3 lần 5 = 15, thuộc về nước Văn Lang. Người Tàu cũng phải công nhận y như Khổng Tử . Không Tử nói kiểu Minh Triết, còn Huyền sử nói kiểu U linh rằng : “ Các nhà Vọng khí đều biết hòn ngọc Long Toại ở phương Nam.

Thế là “ Vật bất ly Chủ ” : Chủ nó là Phục Hi, Thần Nông, Nữ Oa, rồi bị Hoàng Đế chiếm lấy trao cho đến Ân vương, vì Ân vương cảm hoá được, nên dẫn thân sang chôn táng ở đất Việt, y như Trọng Thuỷ trở về phương Nam ôm xác Mỵ Châu và nhảy xuống Việt tỉnh, cùng một trường hợp như chim Loan của Hoàng Đế đập cánh mà chết. Tất cả nói lên câu nói của Khổng Tử : “ Nam phương chi cường dã, Quân tử cư chi ”

Thế có nghĩa là Chủ sách Kinh Dịch là Việt Nam. Cái phiền nhất là “ Giếng bỏ hoang thành bẩn thỉu ” Trong khi đọc truyện Việt tỉnh có một điều lạ là trong truyện không nói đến Giếng, mà đến cuối truyện lại thêm một câu : “ nay Giếng bỏ hoang ”. Giếng nào ? Không tìm ra trong truyện XII, nhưng khi đọc truyện XIII tiếp liền gọi là truyện Kim Quy thì mới nhận được câu trả lời là “ xác Mỵ Châu hoá thành Giếng ngọc ”. Vậy Việt tỉnh cương với giếng Ngọc là một. Và nó không là chi khác hơn là khung của Lạc Thư. Vì Lạc Thư thành hình chung quanh chữ Tỉnh ( 井 ) , cho nên nói Việt Tỉnh chỉ là nói lối khác câu : “ Lạc Thư là sách của Lạc Việt ”, đã được gợi hứng trên bờ sông Lạc, nên gọi là Lạc. Nhiều người không dám nhận ra Lạc Thư là của Lạc Việt, vì chữ Lạc viết với bộ Trãi ( ), hoặc Mã ( 駱 ), hoặc Tuy ( 雒 ), mà không với bộ Thuỷ ( ). Nghĩ như vậy là không suy tư theo dòng biến chuyển ( génétique ) tức là dòng Nam tiến liên tục, vì có cuộc Nam tiến nên tiếng Việt từ bộ Mễ ( ) chuyển sang bộ Tẩu ( ), thì Lạc Thư từ bộ Thuỷ phương Bắc đổi sang bộ Mã phương Nam ( quẻ Khôn là tân mã, thay được bằng bộ Trãi ) hay bộ Trĩ ( quẻ Ly phương Nam chim Trĩ ) là truyện thường trong lối viết chữ Nho. Thí dụ như chữ Trâu chỉ miền Khổng Tử có bốn lối viết ( xem Legge I. 59 ) cũng có thể nghĩ rằng lúc ấy phương Bắc đã hoàn toàn rơi vào tinh thần Du mục, Ngư đã đốc ra Ngư tinh, nên Lạc Long quân phải giết, thì cũng là lúc bỏ chữ Lạc thuỷ đổi ra Lạc chim, từ ( 洛 ) biến sang ( ). Cái lối đổi bộ trong chữ viết là truyện đã xẩy ra nhiều lần mỗi khi sửa đổi Văn tự, nhất là đời Tần là đời chôn táng của chữ viết Việt Nam, ấy cũng là một lối làm cho việc đọc Huyền sử khó thêm một độ. Tuy nhiên khi biết vượt qua tiểu tiết mà đọc cả Kinh Điển lẫn Huyền sử thì câu nói chủ quyền của Việt Nam đối với Kinh Dịch có nhiều bằng cớ và chứng tích. Điều quan trọng nhất là là nếu nhận làm Chủ thì phải biết Đọc theo chính Chủ. Đó là điểm chúng ta sẽ bàn ở chương sau. “ ( Kim Định )

Trả lời

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất /  Thay đổi )

Google photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google Đăng xuất /  Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất /  Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất /  Thay đổi )

Connecting to %s