Hát trống quân trong văn hóa Việt-thư Chúc Tết năm Nhâm Dần của Việt Nhân

 

ĐÓN XUÂN NHÂM THÌN

ĂN CHƠI ĐỂ CANH TÂN CUỘC SỐNG

HẦU

BẢO VỆ VÀ PHÁT HUY TRUYỀN THỐNG VĂN HÓA DÂN TỘC

     HÁT TRỐNG QUÂN

Theo Việt Nho thì một năm có 4 mùa Xuân . Hạ, Thu, Đông.

 Mùa Hạ thì ngày dài đêm ngắn được quy cho Thiên, mùa Đông thì ngày ngắn đêm dài, được quy cho  Địa. Hai mùa Xuân Thu thì ngày đêm bằng nhau, nên quy cho Nhân với Quan niệm :

              Vạn vật đồng Nhất thể:Mọi vật trong Vũ trụ đều có cùng Bản Thể: Vật Chất và Năng lượng, Vật chất có thể biến đổi ra Năng lượng.

Vạn vật tương liên: Nhờ có cùng Bản thể, nên  mọi vật đều có liên hệ mật thiết với nhau, nhờ cấu tạo Nguyên tử  và môi trường sống.

Trong vạn vật thì con Người là sinh vật  cao cả nhất . Con Ngừơi được định nghĩa:

Nhân giả kỳ Thiên Địa chi Đức: Con Người là cái Đức hay là Linh lực của Trời  Đất

và  Nhân linh ư vạn vật : Con Người có khả năng tiếp cận với nguồn Tâm linh là nguồn Tình yêu từ Thượng Đế hơn mọi lòai.

 Mùa Xuân là Chu kỳ bắt đầu đổi mới hàng năm, để Hòa nhịp với  sự  đổi mới chung hầu   thăng hoa cuộc sống cũng như  bày tỏ lòng Tạ Ơn với Thượng  Đế  và Tiền nhân. , Cha  ông chúng ta đã tổ chức  những cuộc Tế lễ Trời Đất Tổ Tiên cũng như những cuộc ăn chơi đình đàm, tất cả  đều được tổ chức vào hai mùa Xuân Thu nhất là về mùa Xuân, đây cũng là cách “ Có Thực mới vực được Đạo lý Nhân sinh.”

Tết Âu Tây đã qua, Tết Ta đang tới,  Hồn Xuân vẫn đang  từng bừng  lan tỏa  trong mọi cảnh giới trần gian.

Đây là mùa con Người ( Nhân ) từng bừng nhộn nhịp  đón Xuân để hòa nhịp sống củng với Tiết nhịp Hòa của Thiên Địa: Nguồn của Tình Yêu: Nguồn Tâm linh   

Trước thềm Xuân, cảm nhận về cuộc Sống…

 ( Nguồn : Internet  )

  “ Ngày cuối năm, khi những cơn mưa phùn đến ngập ngừng, đem theo nhiều nỗi niềm, Tâm sự còn vương lại đâu đó của Năm cũ. Ngỡ ngàng, bâng khuâng… 365 ngày trôi qua thật nhanh với bao kỷ niệm vui buồn. Những câu chuyện vẫn còn dang dở… Những dự định còn chưa thực hiện được… Những ký ức còn chưa kịp phai nhòa… Tất cả đã hóa thành kỷ niệm nhưng cũng chợt ùa về trước thềm Xuân!

Xuân đang tới, Xuân lan tỏa khắp không gian muôn sắc, muôn vị. Mùa Xuân là lúc cỏ cây đâm chồi nẩy lộc, là mùa của những sự bắt đầu, có thể một Tâm hồn mới, một cuộc sống hay một Tình yêu mới. Khi không gian ngập tràn sắc Xuân cũng là lúc cảm xúc con Người trở nên thổn thức, dễ rung động và đón nhậnTình cảm hơn.

Rất nhiều câu chuyện Tình yêu có điểm khởi đầu vào mùa Xuân. Hạnh phúc vốn dĩ rất mong manh, dễ vỡ. Nhưng mùa Xuân chính là thời điểm để con người chăm chút, bồi dưỡng thêm Năng lượng cho Hạnh phúc, cho Tình yêu.

“Có thể đôi lúc, giữa hai lần chớp  tắt của Trái Tim, chúng ta ngẩn ngơ tưởng đã hết yêu nhau, nhưng lạ thay, tình Yêu ấy vẫn nguyên vẹn và lớn lên từng ngày.

Là những gieo mầm vào mùa Xuân, cuồng nhiệt vào mùa Hạ, tha thiết vào mùa Thu, thấu tận cùng nhau vào giữa mùa Đông”.

Ai đó đã nói như thế, rằng hãy nhìn cuộc đời bằng đôi mắt tích cực nhưng giản đơn chúng ta sẽ thấy Hạnh phúc đang ở rất gần. Hạnh phúc có hay không là tùy thuộc ở góc nhìn của chính mình.

Và rất tin mùa Xuân là mùa của Hạnh phúc, mùa để con người ta dễ vượt qua chính Mình nhất, dễ bỏ qua những nhỏ nhoi ích kỷ thường ngày để xích lại gần nhau hơn, Tình Người đong đầy hơn
 
Cuộc sống cảm giác như ngày một hối hả, người ta dường như càng ít dành thời gian cho đầu óc mình thư giãn, một phút để thả Hồn theo mây gió, một chút cảm xúc và một góc lãng đãng cho chính Mình.

Giật mình khi những trang lịch cuối cùng rơi xuống. Điều đó cũng có nghĩa là Tết cũng sắp đến và người ta sắp bước sang một tuổi mới.

Trẻ em thì nô nức, người già thì mong thời gian trôi chậm lại, còn người trẻ thì lãng quên lo toan cho cuộc sống mưu sinh của mình. Cái nhịp sống tất bật hằng ngày đôi khi khiến cả những con đường hoa trở nên gập ghềnh, ngao ngán.

Thế hệ này nối tiếp thế hệ kia tạo nên một dòng chảy không ngừng. Hành trình đời người tưởng dài mà cũng thật ngắn ngủi. Người ta phải vật lộn với từng miếng ăn, manh áo, bệnh tật, buồn, vui, thiên tai, thảm họa… chừng ấy những khổ đau nhưng cũng đong đầy Hạnh phúc. Và có lẽ không ít người cảm thấy cuộc đời là một chuỗi những gánh nặng, có lúc ai đó muốn buông xuôi tất cả nhưng có một thứ vô hình đã níu kéo họ lại. ‘

Đó chính là hai chữ thật giản dị – Tình Người, rất dễ tìm mà cũng dễ đánh mất
 
 ( Miễn trích  một số dòng).
 
 
Hạnh phúc là sự sẻ chia. Khi ta khư khư ôm chặt Hạnh phúc một mình, Hạnh phúc sẽ trở nên nhỏ nhoi, bé bỏng. Nhưng khi ta sẻ chia cho nhiều người ở xung quanh ta, Hạnh phúc như dâng tràn và được nhân lên gấp bội.

Mùa Xuân đang về, năm mới đang đến cầu chúc cho mọi người luôn được Bình yên, Hạnh phúc và Thịnh vượng. Cầu cho Thế giới hòa bình, con người xích lại gần nhau hơn! Dù cuộc sống hôm nay có bận rộn đến đâu hãy nhớ rằng Tình yêu thương con Người vẫn là thứ vô giá. Nó giúp ta có được những niềm vui trong cuộc sống, có được sự hưng phấn để trở lại cuộc sống đời thường nhưng rất mới mẻ, có thêm những Tình cảm quý giá, những động lực để tiếp tục thực hiện những dự định của mình trên đường đời…
 
Đóng cửa lại, bước ra đường nô nức đón mùa Xuân với dòng người vừa xa lạ vừa thân quen, lòng ta như hòa vào hương sắc Xuân với bao cảm xúc mới mẻ hân hoan. Giây phút hiện tại này đưa đến cho ta những đổi thay của cuộc sống. Mùa đông đang lui bước nhường cho mùa Xuân mang nắng ấm Yêu thương về với con Người và vạn vật. ‘

Hãy bỏ quên lại bên ký ức những tháng ngày mệt mỏi, hãy bước tiếp cùng thời gian để lại được nằm trong vòng tay trời Xuân, nắm lấy mùa Xuân
 
Hãy xòe đôi tay hứng lấy những giọt Xuân để biết trân trọng từng khoảnh khắc của cuộc đời! “

Cỏ May

CÁCH VUI XUÂN CỦA TỤC HÁT TRỐNG  QUÂN  

TRỐNG QUÂN

Trống Đồng là cổ nghệ mang Biểu tượng của Văn Hoá Việt thuộc dòng Văn gia. các Diễn đề trên mặt Trống Đồng mang Cơ cấu  Dịch lý , Tam tài ,Ngũ hành, cùng các cặp đối cực Dịch lý  tượng trưng  cho Tiết nhịp Hòa của Vũ trụ thuộc dòng Văn gia.

Còn Hát Trống quân là  “ sinh hoạt thăng hoa Nhân phẩm “  thuộc dòng Chất gia ( Bình dân ) , các   sinh hoạt Văn hóa của Bình dân cũng mang tính chất “ Hưng ư Thi, lập ư Lễvà thành ư Nhạc “,[ I ]  tức là Sinh hoạt lấy nguồn Cảm hứng từ Tình Yêu đôi  lứa ( Âm Dương Hòa : Nguồn Tâm linh ),  xây dựng  gốc Lễ của Văn Hoá để có được “  Lễ , Nghĩa, Liêm, Sỉ “ hầu  vươn lên trạng thái : “ Thiên Địa vị yên, vạn vật dục yên, Chí Trung hòa  ” nhờ đạt Tiết nhịp Thái hòa : 2- 3, 5 nơi Nhạc , đây là công trình thăng hoa cuộc sống theo tinh thần  của  Nước mang tên Việt với ý nghĩa siêu việt .  

Nhờ thế mà Văn gia có  Kinh điển, Chất gia thì có Văn chương Truyền khẩu như truyện Cố tích, Ca dao, Tục ngữ, tuy là hai dòng Văn Hóa nhưng cả hai đều có nguồn gốc từ Thái cựcÂm Dương Hoà,Thái cực  là  “ Nhất lý thông  “  giúp cho  “ Vạn lý minh “. Vạn lý là những cặp đối cực lưỡng nhất  theo tinh thần Âm Dương Hòa như:

Thái cực phân cực thành  Thái Âm / Thái Dương, Thiếu Âm / Thiếu Dương, cũng như các cặp đối cực:  Gái / Trái, Mái /Trống, cái / Đực. Nhụy Cái / Nhuỵ Đực, Thủy / Hỏa. Mộc / Kim của Ngũ hành. . .  tất cả đều lưỡng nhất ( dual unit ),  nhờ sự điều phối của nguồn năng lượng Vũ trụ mà đạt thế Quân bình động để luôn Tiến bộ và được Cân bằng, ổn dịnh, Tổ Tiên  gọi là Tiết nhịp Hòa của Vũ trụ .

Nguồn Năng lượng tạo ra và điều hòa Tiết nhịp Vũ tru  có Công thức là E= mc2 ( Einstein ), Hành Thổ trong Ngũ hành chính là biểu tượng cho nguồn năng lượng Tình yêu này – nguồn Tâm linh -.

Chúa Xuân đang đem sức sống mới lại cho muôn loài, để thấy rõ được sức sống Nhânbản dạt dào của nền Văn Hoá Dân tộc chúng ta thử tìm hiểu sinh hoạt của Hát Trống Quân để ôn cố tri tân, hầu tham gia vào nhịp sống Hòa của Vũ  trụ ( Xem video hát Trống Quân Dạ Trạch, Hưng Yên trên internet )

 HÁT TRỐNG QUÂN

( Kim Định)

  1.- Cuộc nhảy đầm có tính cách CÔNG THỂ và TÂM LINH

 “Trống quân không những khác nhảy đầm vì tính chất Công thể tức không nhảy với một bà nhưng nhảy với một đàn bà

Nét thứ hai trong việc nhảy còn có cái gì Linh thiêng bao bọc nên Trống quân lẽ ra phải được tổ chức dưới Núi, bên bờ Sông ở cửa Đông / Nam của thành hay làng.

Thường thì những điều kiện đó khó hội đủ nên người xưa đã sáng chế ra Tiếng Trời Tiếng Đất để thay thế cho những điều kiện trên kia. Đó là cái Trống Đất (đào lỗ xuống Đất) lại có dây chằng ở trên chỉ Trời. Khi hát mà gõ lên dây phát ra tiếng gầm gừ như là Tiếng Đất / Tiếng Trời đệm theo quấn quýt lấy những lời Hát đối của đôi bên. Còn những lời đối đáp qua lại nhiều khi chở theo rất nhiều yếu tố Triết bình dân.  Hãy đưa ra vài thí dụ: miếng Trầu là đầu câu chuyện.

            Bè nữ:

                        Gặp nhau ăn một miếng Trầu

                        Gọi là nghĩa cũ về sau mà Chào

            Bè nam:

                        Miếng Trầu đã nặng là bao

                        Muốn cho Đông liễu Tây đào là hơn

            Bè nữ:

                        Miếng Trầu kể hết nguồn cơn

                        Muốn xem đây đấy thiệt hơn thế nào.

            Bè nam:

                        Miếng Trầu là nghĩa xướng giao

                        Muốn cho đây đấy duyên nào hợp duyên.

Thí dụ khác:

            Bè nam

                        Ở đâu năm cửa Nàng ơi?

                        Sông nào sáu khúc nước chảy xuôi một dòng.

                        Sông nào bên đục bên trong?

                        Núi nào thắt quả bồng mà có thánh sinh?………

                        Ai mà xin được túi đồng?

                        Ở đâu mà lại con sông Ngân Hà?

                        Nước nào dệt gấm thêu hoa?

                        Ai sinh ra cửa ra nhà Nàng ơi?

                        Kìa ai đội đá vá trời?

                        Kìa ai trị thuỷ cho đời được yên?

            Bè nữ:

                        Thành Hà Nội năm cửa chàng ơi.

                        Sông Lục Đầu sáu khúc nước chảy suôi một dòng.

                        Nước sông Tương bên đục bên trong.

                        Núi đức Thánh Tản thắt quả bồng mà lại có Thánh sinh.

                        Ông Khổng Minh không xin được túi đồng.

                        Trên Trời lại có con sông Ngân Hà.

                        Nước Tàu dệt gấm thêu hoa.

                        Ông Hữu Sào sinh ra cửa ra nhà chàng ơi.

                        Bà Nữ Oa đội đá vá trời.

                        Vua Đại Vũ trị thủy cho đời được yên.

            Bè nam:

                        Bây giờ Mận mới hỏi Đào,

                        Vườn Hồng đã có ai vào hay chưa?

            Bè nữ:

                        Mận hỏi thì Đào xin thưa:

                        Vườn Hồng có lối nhưng chưa ai vào.

            Nam kết:

                        Ai về đường ấy hôm nay

                        Gởi dăm điều nhớ gởi vài điều thương

                        Gởi cho đến chiếu đến giường.

                        Gởi cho đến chốn buồng hương em nằm.

2.- Cuộc nhảy: Hoạt động cả Thân / Tâm

Đại khái đó là vài mẫu khi đọc lên nhận thấy hai điểm đặc sắc sau đây:

Thứ nhấttính chất động đích của Trống Quân khác với nhảy đầm. Nhảy đầm chỉ cần biết đưa tay đưa chân sao cho hợp với điệu nhạc khỏi phải suy nghĩ, cũng khỏi phải hát nữa, đã có máy.   Trống quân thì phải hoạt động hơn nhiều: Miệng phải hát, Tâm trí phải tác động để đối đáp, vì không được hát bài có sẵn mà phải tuỳ cảnh mà sáng tác lấy rồi hát lên tức khắc cho hợp câu hỏi.

3.- Cuộc nhảy: Kết mối Hoa Tình ( Đại Đạo Âm Dương hòa )

Thứ hai là ý phải từ xa tới gần, mà gần cuối cùng là việc lấy nhau, nói lên một cách không úp mở nhưng phải nói “ Hoa Tình”  tức là nói lên cách Văn hoa và như thế nó không phải là một sự vui giải trí như nhảy đầm, mà là việc làm có Chủ đích đưa đến Hôn nhân nhưng đưa đến bằng Nghệ thuật, bằng Múa hát, tức là một lối Triết lý toàn diện.   Tất cả Tinh thần Vật chất hòa trộn với nhau, chứ không có kiểu phân chia.

Vào Điện hay Đền Thờ lạy, rồi ra xóm bình khang chui lủi: Tinh thần ra tinh thần, Vật chất ra vật chất. Ở đây Tinh thần Vật chất hòa hợp ngay trong một nơi, một lúc theo đúng Triết lý tìm Phi thường trong cái Thường thường.

Trở lên là thử đưa ra một hai thí dụ về sự thấm nhập của Triết lý vào trong mọi hành vi cử chỉ của người Việt.

4.- Phương thuốc chữa bệnh Duy: Phục hoạt Triết lý hướng dẫn Thân / Tâm

 Đấy là ơn ích rất lớn và nếu biết làm phục hoạt thì sẽ là bài thuốc chữa Bệnh thời đại mà Herbert Marcuse kêu là bệnh Duy một chiều kích. Hay cũng quen gọi là Nhị nguyên, tức là duy Vật hoặc duy Linh.  Linh thiêng được biểu lộ rất lớn lao trong bao nhiêu điện đài, bao nhiêu sách, bao nhiêu người hy hiến Thân Tâm cho Tinh thần. Nhưng vì là Nhị nguyên nên Anh đi đường anh Tôi đi đường tôi.

                        Đạo là Đạo.

                        Đời là Đời.

Hóa cho nên Đời trở nên vô Đạo, mặc dầu các thứ Đạo lý truyền bá khắp nơi nhưng vì đứng ngoài Đời nên đời vẫn vô Đạo.  

Nhưng hỏi vậy tại sao người đời không để ý đến Đạo nằm ngay trong Đời. Thưa vì đó là điều rất khó và rất dễ quên đi. Rất khó vì người ta dễ chú ý những cái gì ngoài mình, vì lúc ấy nó là Đối tượng, giác quan có thể tác động.

Còn như Đạo đã lẫn vào Đời vào Thân Tâm thì không còn đứng ngoài nên không còn là Đối tượng.

Vì thế Kinh Dịch mới nói là “ Bách tính nhật dụng nhi bất tri chi ): Bách tính dùng hằng ngày nhưng không biết đến. Không biết đến nên là nguy cơ, và mối nguy cơ đó càng ngày càng trở nên lớn lao vì không những Bách tính là Thường dân không biết, mà cả giới Trí thức cũng không biết đến nữa, thế mới nguy.

 Vì từ lúc ấy họ sẽ đi tìm Triết ở xa xăm theo cả hai nghĩa, một là phát xuất từ ngoài đời sống, đứng ngoài con Người nên dễ được tìm thấy, dễ được học hỏi, và do vậy gây nên cho nền Triết lý Việt Nam một cơn thử thách lớn lao như chưa từng thấy.  Vì hầu hết Tri thức trong nước đã bỏ Triết nhà để chạy theo Triết ngoài.

Có còn cách nào cứu vớt nổi tình trạng này chăng? Chưa biết, nhưng chắc một điều là nếu không cứu với nổi tinh thần Triết Việt thì chúng ta chỉ còn có Triết học để học, nghĩa là để mà chơi. Chứ còn Triết lý tẩm nhuận việc Ăn Làm, Triết lý hướng dẫn Thân / Tâm thì không còn nữa.

Bởi vậy dù thành hay bại việc đáng làm là chúng ta hãy cố gắng làm. Và đó là mục tiêu của quyển sách nhỏ này, và đường lối của quyển này là bình dân. Cụ thể là những Lễ lạy Đình đám mà vì tinh thần Thống nhất nên chúng ta có quyền coi chúng như tài liệu chân thực về Triết lý bình dân trong đó cái Đình là Trung tâm hiện thực nên lấy đó làm đầu đề cho sách: Triết lý cái Đình.”     

II.- Trống Quân xét như khôi nguyên:Nghệ thuật sống của Việt tộc

( Văn Lang vũ bộ : I.- Trống Quân như một khôi nguyên . . .  Kim Ðịnh )

1.- Trống quân biểu hiện nét Lưỡng hợp  ( dual unit ) sinh động

“ Trong lãnh vực Văn hóa nước ta nếu ai muốn đưa ra một sự kiện vừa căn bản vừa bao trùm hơn hết còn sót lại từ buổi sơ nguyên thì đó là Trống Quân. Phải, chính tục lệ này nếu không cung ứng thì cũng biểu thị cách chói chang, phong phú hơn hết cái Cơ cấu uyên nguyên về Vũ trụ quan của Tiền nhân

Việt tộc cũng như về mối Nguyên lý hướng dẫn trọn nền Triết lý Nhân sinh của cả miền Đông Á, nơi Nhân sinh quan xây trên đạo Vợ Chồng: “ Quân tử chi đạo tạo đoan hồ Phu Phụ “.  

 Vậy mà trước khi nên được Vợ Chồng thì phải biết ve nhau, nên Kinh Dịch mở đầu hạ kinh bằng hai quẻ Hàm và Hằng.  Hàm là ve: ve Gái hay ve Trai tuỳ. Còn Hằng là ở với nhau mãi mãi. 

Đây là một Nhân sinh quan được xây trên Vũ trụ quan ở Thượng Kinh của Dịch mở đầu với hai quẻ Kiền Khôn có nghĩa là Trời / Đất giao thoa. Nét căn bản nổi bật của Văn hóa Việt tộc đầy sinh động nằm trong đó.

 Trống Quân chính là biểu diễn lại cái nét Lưỡng hợp sinh động. Cho nên nắm vững tinh thần Trống Quân chính là hiểu được đầu mối cái Cơ cấu Triết lý sinh động của Tổ tiên xưa kia vậy. 

Đó quả là điều quan trọng hơn hết trong lúc này, lúc mà con người khắp nơi đang cảm thấy thiếu thốn cái chi nên nảy ra ý muốn trở về Nguồn.

2.- Về Nguồn bằng cuộc đấu: Tình, Lý, Nói, Ca

Khắp nơi trên thế giới đều đang vang lên chữ về Nguồn mà vẫn không sao về cho được, là bởi thiếu Lối về.   Với người Đông Á thì một trong những Lối về đó là Trống Quân, nên hiểu trúng được sẽ giúp ta trên Nẻo đường về. 

Bởi chưng căn bệnh trầm kha của Nhân loại hiện nay là  “ bệnh Một chiều kích “, cần tìm cho nó con đường nào giàu  “ Lưỡng hợp tính  “ hơn cả và đó là Trống quân.   Lý do: trong Trống quân có nhiều Cặp đôi hơn hết.

3.- Thời gian và Không gian cuộc đấu

Hãy kể sơ qua: trước hết nó được tổ chức vào hai mùa Xuân / Thu. Đó là cặp đôi đầu thuộc Thời gian. Sau là dưới chân Núi nơi có Suối Nước: cặp đôi thứ hai thuộc không gian .

Còn nếu không có Núi có Sông thì thay bằng cửa Đông / Nam, hay cùng lắm thì cửa Nam.

4.-Các đấu thủ : Hai bè Nam / Nữ

Thứ ba, nơi hát phải đào một lỗ làm cái Trống Đất trên có chăng dây làm Trống Trời cũng như làm biên giới giữa hai bè Nam / Nữ đóng vai hai Đạo quân. 

5.-  Khí giới giao đấu: Ca Vũ

Còn khí giới là Ca, là Vũ, toàn là thứ có nhịp Đôi như sẽ phân tích ở dưới.

6.- Chiến lợi phẩm cuộc đấu: Kết đôi Hoa Tình

Cuối cùng những đôi nào “ bị bắt “  sẽ sang qua sông, trao hoa cho nhau và hợp Thân ngay trên nệm cỏ xanh (đạp thanh). Đó là đôi Uyên Ương trong thế sáng tạo hơn cả.

 Kèm theo là nhiều trò như bắn nhau bằng những quả cầu làm bằng chỉ Ngũ sắc như nói người Mèo, người Thổ chẳng hạn.… Hoặc nhiều trò chơi khác tương tự làm cho Trống quân càng thêm giàu tính chất sinh động.  Tây phương nói “ La vie est un combat: đời là chiến đấu “ và ngày xưa hay dùng việc đấu gươm mà xử kiện: ai thua là đuối lý. Như vậy là lý lẽ dựa trên sức mạnh. Đó là lối Du mục

Đông phương theo lối Nông nghiệp tuy công nhận đời là chiến đấu, nhưng thay vì đấu gươm thì lại đấu Lý, đấu Tình, đấu Ca, đấu Nói như được bày tỏ mặn mà nhất trong Trống Quân, một bên Hát xướng, bè bên kia phải Hát đáp liền, nếu không là “ thua “.…

7.- Những mối liên hệ trong cuộc đấu Hoa Tình

Điều đó nói lên tính chất Lưỡng hợp, mà Lưỡng hợp tính chính là Linh hồn của Triết lý Việt Nho.   Nên Trống quân là một Lễ trong có liên hệ:

                        Tới Vũ trụ quan như Trời với Đất,

                        Tới Quốc gia như Non với Nước,

                        Tới Làng mạc như của Đông với Nam

                        Tới Gia đình như hai bè Nam Nữ đưa đến việc nối dõi tông đường.

Hai bè dàn quân ra, rồi biểu diễn các tác động của chiến đấu: nào ve, nào ghẹo, nào thách, nào đố, nào tiến vào đất địch chớp nhoáng lại rút ra vì địch cũng đang tiến vào đất mình, đong đưa như hai con Rồng lượn khúc theo nhịp thùng thình “ vài ba “  của Trống ngũ liên: 3 Trời 2 Đất. Quả là một cuộc chiến đấu quan trọng nhưng đừng sợ chết chóc tang thương vì đây là “ một cuộc cờ Người “: gọi là “ đấu trí mà chơi “ nên thay vì chết chóc thì chỉ có sống, sống mạnh: sinh sinh, vì cuộc chiến kết hậu bằng sự hợp Thân trên nền cỏ xanh.

Trước đó có tặng hoa nên hoa trở thành quan trọng, đến độ tiếng Hoa gắn liền với Tình thành Hoa Tình. Hoa đây thường là hoa Lan (hay Thược dược) được trao tặng nhau trước khi giao hợp và sau cuộc đấu mà nàng “ phình phình từ giữa phình ra “ thì đến mùa Thu sẽ làm lễ Cưới.

Chỉ phác họa sơ qua thế đã thấy ngay tầm quan trọng của Trống quân, nó bao hàm một Triết lý Nhân sinh xây trên Vũ trụ quan động, nên cũng là một thứ Tế tự của toàn dân. Vậy mà cho tới nay chưa được nghiên cứu thấu đáo nhất là về phương diện Triết lý. Vì thế đó sẽ là điều chúng ta bàn ở đây.( 1 )

( 1 ) : Tài liệu trong việc này phần lớn chúng tôi mượn của ông Granet trong cuốn Fêtes et chansons anciennes de la Chine, Paris 1929, sẽ viết tắt là Fêtes. Quyển ấy nhằm tìm hiểu Kinh Thi đúng với ý nghĩa trung thực của nó. Quyển thứ hai là “ Les Chants Alternés “  của tiến sĩ Nguyễn Văn Huyên, Paris 1934, sẽ viết tắt là Huyên. Bá Nho hay Hán nho đều là Nho đã bị bẻ quặt.

8.- Kinh Thi: Chiến lợi phẩm của Trống Quân

Phương pháp sẽ là Triết lý với sự trợ giúp của Xã hội học, Cơ cấu luận, tất cả đi ngược với lối Nho Thanh giáo dùng Vương triều để giải nghĩa Phong tục dân gianCòn đây dùng Phong tục dân gian để tìm hiểu Kinh Điển, lấy tiếng Dân để hiểu Trống quân

 Đó cũng là lấy Chất gia làm nội dung tìm hiểu Văn gia, nên xoay quanh quyển Kinh Thi, nói có cả Văn cả Chất.   Đây là sách mở đầu toàn bộ kinh điển Nho gia, nên hiểu sai Kinh Thi là dễ dàng hiểu sai cả các kinh sau.  Vì Kinh Thi không là chi khác hơn là Chiến lợi phẩm của Trống quân.

Nói khác nó ghi Tiếng Dân nhưng không phải là bất cứ lúc nào mà chính là lúc dân hát Trống quân hay ít nữa cũng theo phong thái của Trống quân, trong bầu không khí đó, hoặc hướng vào đó.  Sau này bá Nho uốn nắn để theo chiều hướng Thanh giáo nên không nhận ra điều trên (Fêtes 7).  

Nhưng cũng nhờ bị cạo tẩy mà nó được sống qua các đời để nay chúng ta còn có dấu vết đi tìm lại được nhiều Tục lệ cũng như đời sống thời xa xưa. (Về việc cạo tẩy, tức gán tác quyền cho vua quan xin xem Histoire de la literature chinoise, Prose Georges Margoulies p.13).

9 .- Hát trống Quân là một cuộc Tế Lễ: Tôn giáo Phong nhiêu

Là chính những yếu tố gặp thấy trong các cuộc Tế lễ:

Bàn thờTrống Đất Trống Trời thay cho Non và Nước khi hoàn cảnh không cho phép có.

– Tư tếhai bè Nam Nữ mặc áo đẹp ngày lễ.

– Còn Tếsự Đấu của hai bè: đấu Ca, đấu Lý, đấu Tình…

– Rồi tới Giao hợp được coi là cái đinh của cuộc Lễ biểu thị sự phối hợp cao độ nhất mà con người có thể hiện thực: Nên non phải trèo, Nước phải lội, Người phải giao. Ông Granet gọi là “ chịu Lễ Giao tình “  (communion sexuelle).

Cuối cùng có cuộc đại Ẩm làm như nghi lễ Giao thoa với Đất.   Tất cả được gọi là Bôn tức lối cưới hỏi trực tiếp: gạ hỏi thằng không môi giới, lẫn làm thẳng, tức hợp Thân liền, với niềm tin rằng năm nào không có “Bôn “ thì sẽ mất mùa.   Niềm tin này thuộc giai đoạn Bái vật sau sẽ thăng hoa và truyền sang cho Vua: đức hạnh ông Vua ảnh hưởng đến thời tiết. Cả hai niềm tin là một, cùng thuộc Tôn giáo Phong nhiêu và ở đợt Bái vật: Lợi hành. Nói dân gian là công thể (toàn dân chịu trách nhiệm) đến khi quy tụ vào Vua thì một mình Vua chịu trách nhiệm về việc mưa gió, nóng lạnh, nhưng rồi niềm tin đó sẽ được thăng hoa tới đợt Triết lý là giúp Trời Đất trong việc Hóa Dục. Đó là một tiến trình đi lên, muốn hiểu đựơc ý nghĩa cần tới bầu khí bao quanh Trống quân.

a.- Bầu khí của cuộc Lễ: Tự do

A.-  Con gái : Nói thẳng làm thẳng

Trước hết đó là bầu khí Tự do lúc con Gái chưa bị  “ bó chân “  còn có thể một mình đi dạo trên bờ sông Hán sông Giang, có thể mời Trai ăn trầu, cho Địa chỉ hội họp.… Mối tình thôn dã lúc ấy chưa bị thanh giáo cấm đoán hay bẻ quặt nên mọi cử chỉ đều làm trong tâm trạng vô tội, đường hoàng chứ không phải dấu diếm chi hết. Tất cả được nói thẳng ra. Người ta đang gánh nước nặng trĩu vai mà dám đường đột hỏi:

                        Cô kia gánh nước quang mây

                        Tôi hỏi câu này có lấy tôi chăng.

Nói thẳng, làm thẳngtrên Bộc trong đâu “  như thấy ở nước Trịnh nơi giữ được nhiều tục lệ xưa hơn cả, cũng là nơi có con sông Bộc chảy qua.  Nên nhớ Bách Việt cũng có tên Bạch Bộc vì nhóm ở trên sông này có nhiều nét biểu hiệu hơn cả (Xuân Thu nói đến Bộc rất nhiều xem bản của Legge tr.273).

B.-  Chưa có Tinh thần Thanh giáo kiềm chế

Thứ hai, lúc ấy chưa có câu “ Nam Nữ thụ thụ bất thân “  phát xuất từ óc Thanh giáo Bắc phương nên có thể tự do ca hát ngoài đồng nội, trên bờ sông, chung quanh bờ giếng, có thể cùng lên xe, nhìn mặt, cầm tay (xem bài Hưng Ư Thi trong Nguyên Nho).

C.-  Con gái làm Chủ tình thế

Điểm thứ ba, Gái còn nắm chủ tình thế nên chính các Cô khiêu chiến trước.   Phụ lúc ấy còn là , cậu mới là phu, theo phong thái Tả nhậm như có thể đọc thấy rất nhiều trong Ca dao Việt, cả đến Kinh Thi cũng còn có chỗ giữ thứ tự Thất (vợ) trước Gia (chồng) “ nghi kỳ Thất Gia “  (Thi: đào chi yêu yêu) tức Âm đi trước Dương, Gái trước Trai.  Nhiều Nho gia có thấy điểm này nhưng lại giải nghĩa bằng lý lẽ siêu hình giả tạo như mùa Xuân Dương khí lên mạnh nên con Gái (âm) bị ảnh hưởng!   Sự thật thì Lễ tổ chức vào hai mùa Xuân Thu, là hai mùa của Người hơn hết, đã vậy lại theo Tả nhậm: Gái nắm phần sáng kiến y như người trước Trời Đất.

Cần nhấn mạnh điểm này để đặt nổi sự cấm đoán của vương triều không cho Gái bắt đầu trước mà phải  “ phu xướng phụ tuỳ  “ về sau.

 D.- Hợp với Thời tiết: Triết lý Chữ Thời

Điểm thứ tư cũng rất nền tảng là sự thống nhất và căn cơ của sự thống nhất đó là Điển tiết cũng gọi là Thời tiết, nên Kinh Thi cũng có thể coi là quyển Triết lý của Chữ Thời trong đó hai mùa quan trọng hơn hết là Xuân Thu mà con én đóng vai đại sứ du hành để thông tin cho các cặp Nam Nữ biết đã đến ngày hội họp để mà “ đưa thoi “.  Như vậy con én là biểu hiệu của cưới xin tự do đã đưa thoi từ những ngày Xuân của muôn thế hệ trước, nên Trống quân đã trở thành một Cơ cấu, một Lễ, tức là cái gì u linh trang trọng dù sức vật lộn với Văn hóa Du mục đến sau.

Tóm lại yếu tố nền tảng là cuộc Tế trong bầu khí Tự do cởi mở của Công thể: mọi cái là của chung theo một lối nào đó, có thể tóm vào hai cặp danh từ là Tâm linh và Công thể. Đó là những đức tính đi kèm Trống quân và sẽ bị Văn hóa Du mục phá vỡ

Vì nét đặc trưng của Du mục là Độc hữu ngược hẳn với tinh thần Công thể của Nông nghiệp:

Độc hữu là óc cá nhân riêng rẽ với sự độc quyền là hậu quả tất nhiên. Khi óc cá nhân thắng thế thì mạnh được yếu thua, càng mạnh càng có nhiều, chiếm nhiều, chiếm tài sản, rồi chiếm luôn cả đàn bà làm tài sản, vì thế nảy ra sự cấm đoán đàn bà tự do đi lại, cũng từ đó mà nảy ra tục “Nam Nữ thụ thụ bất thân”.

Chính vì vậy mà Trống quân trải qua nhiều cuộc lột xác. Ta hãy theo dõi một số trường hợp: trước hết với vương triều.

E.-  Biến thể của Trống Quân

1.- Lột xác của Vương triều để thành Tế Giao

a.- Tế Giao

Nói rằng lễ Tế Giao phát xuất tự Trống quân là một câu nói khó có thể xác quyết vì nó thuộc phạm vi tiền sử bao la.  Rất có thể lễ Tế giao là hậu thân của hai lễ Phong và Thiện cũng như Phong Thiện là một dị bản chính thúc của nhà cai trị có tính cách tương đương với Trống quân của dân gian.

Tuy nhiên trong tiến trình đàn áp Trống quân thì Tế Giao có thể đóng vai trò thay thế và nhân đấy là biến thể của Trống quân như học giả Granet đã nhận xét.

Học giả Maspéro cũng cho rằng lễ Tế thêm vào sau đạo Phong nhiêu, CA p.53. Như vậy là đã hé thấy mối liên hệ giữa hai bên, và trong ý hướng đi tìm chi tiết của liên hệ có thể kể ra những chặng biến thể từ Trống Quân hướng về Tế Giao.

b.-  Lễ Phong Nhiêu

Ông Granet đã làm điều đó xuyên qua những tục lệ mùa Xuân của nước Trịnh, Trần, Lỗ. Ở Trần và nhất là Trịnh có tiếng là duy trì được nhiều Tục lệ dân gian nhất thì người ta thấy hầu còn nguyên vẹn hình thức Trống quân như trong Quốc phong bài Trăn Vĩ. Ở đây xin chú mục vào nước Lỗ vừa là quê hương của Khổng Tử vừa có sự biến thể rõ hơn. Trong Luận ngữ, thiên XI, câu 25 có lời rằng:

                        Mộ xuân giả, xuân phục kí thành:

                        Quán giả ngữ lục nhân

                        Đồng tử lục thất nhân

                        Dục hồ nghi

                        Phong hồ vũ vu

                        Vịnh nhi quy.

Chúng tôi nhớ khi xưa mới học Nho đến bài này đã cảm thấy có cái chi chèo kéo bí ẩn lạ thường (như đã bày tỏ trong quyển Tâm Tư, chương IV).   Sau này đọc rộng thêm mới nhận ra nhiều học giả khác cũng khoái đoạn văn trên như vậy, cuối cùng chúng tôi nhận ra sức thu hút của câu văn là do tinh thần Trống Quân còn lởn vởn trong đó.

Bàn thờ là nơi cầu mưa: đó là đài Vũ vu,

Tư tế hai đoàn Trai trẻ mối đoàn từ 6 đến 7 người,

Ca hátvịnh, là phong (hóng gió),

Tế sang sông như trong câu “ dục hồ nghi: tắm ở sông Nghi “.

Chịu lễ là Quy. Chữ Quy theo Vương Thông có liên hệ tới ăn.

Đây là bước thứ hai trên đường hoán thể vì ở bước nhất sách Chu Lễ còn dùng cả Trai lẫn Gái: cả Vu lẫn Hích chỉ khác không còn ở tuổi xuân nữa mà đã lớn tuổi, lại đi tu. Đây thì không tu, cũng chưa già nhưng toàn trai thì cũng chẳng làm nên được trò trống gì ngoài sự nhai lại kiểu diễn tuồng trong các nội trú Nam sinh: vai Nữ phải hóa trang. Dầu sao đó không chỉ là một cuộc chơi thường nhưng là một cuộc Lễ, vì có sửa soạn xiêm áo cho dịp này trong câu ‘ xuân phục ký thành “ . Rồi lại có ca vũ dưới đài cầu mưa, nên Vương Thông trong sách Luận Hành cho đó là lễ cầu Mưa. 

Sự thực thì không những cầu Mưa mà là cầu Mùa, hay đúng hơn là lễ Phong Nhiêu nhưng đang được “ thăng hoa “ : tức đang trút bỏ những gì không hợp cho thời Chu nữa, thí dụ bỏ bê Nữ để khỏi phạm tục “ Nam Nữ thụ thụ bất thân “.  Còn hai việc Bôn và đại Ẳm thì bỏ hẳn.         Vương Thông cho rằng việc đại Ẩm nằm trong chữ Quy mà lẽ ra Quỹ [餽:Nuôi ăn, cho ăn — Cho, tặng — Cúng tế. ] có nghĩa là một thứ tiệc Thánh, nên viết với bộ thực (Fêtes 156).

Nếu không là lễ Phong Nhiêu thì tại sao phải hát, phải ăn (quỹ).

Tại sao phải mặc áo xuân.

Tại sao phải hai bè.

Tại sao phải qua sông (dục hồ Nghi có nghĩa như “ thiệp đại xuyên: qua sông “).

Tại sao lại ca hát trên Sông và dưới chân Đồi (vũ vu)?

Người ta chỉ tìm ra lối đáp thỏa đáng khi cho đó là Trống quân đang lột xác, nói cụ thể là bỏ hai yếu tố: toàn Dân và bè Nữ. Đây là cuộc lột xác thứ hai hay ba.   Còn đợt bốn sẽ đưa sang lễ Tế Thiên (hoặc đây là lễ trung gian giữa Trống quân và lễ Nam giao). 

Lễ Nam Giao xét về nội dung được truyền tụng là có từ đời Vô Hoài thuộc thời đại Thần Nông. Vô Hoài có nghĩa là từ đời nào không ai nhớ được nữa vì lâu quá.  Rồi sau đời Tam Đại gọi là Phong Thiện. Phong là tế Trời: đắp đất cao lên làm bàn thờ để tế, còn Thiện là tế Đất nên quét sạch đất mà tế (1)

  • Có mối liên hệ nào chăng với câu “ phụ đồng phụ chổi, thổi lổi ma lên “ và câu hát múa Lào: tôi cầm cái chổi, tôi quét cái nhà.…

c.-  Lễ Phong Thiện, Lễ Nam Giao

Có thể Phong Thiện đã là một hình thái biến thể của Trống Quân và cũng là tiền thân của lễ Nam Giao, với mục đích không được rõ ràng như là Phong Nhiêu của Trống Quân. Vì có lúc thiên về việc cầu tự cho nhà Vua. Khi Vua ra tế thì đưa cung phi đi cùng, người nào được vua ngự rồi thì được uống rượu và trao bao cung tên để chỉ sự cầu cho có con trai (Fêtes 168). Người ta có thể thấy ấn tích của Trống Quân trong những sự kiện đặt vào lễ Giao thấy không ổn.  Thí dụ tại sao không tế Thiên trong thành như trong cung điện mà phải ra ngoài đồng, ở phía Nam?   Tại sao có thời tế Địa trên phía Bắc, tế Thiên phía Nam? Tại sao lại gọi là Giao khi không có giao nào cả?…  Và ở đây cũng chỉ tìm ra lối đáp thỏa đáng trong Trống Quân mà tế Giao là một biến thể: vì có sự giao hợp trên ruộng nên Trống quân là lễ bao giờ cũng diễn trên Ruộng.  Đã có dạo người ta tế Địa ở Bắc thành, tế Thiên ở Nam, nhưng sau không rõ vì lý do nào lại dồn một: có lẽ vì cách một cái thành thì làm sao mà Giao. Vì vậy cuối cùng đưa cả về Nam và tế Thiên cũng là tế Địa: có xông hương cho Thiên, đổ rượu xuống đất cho Địa. Còn chịu lễ thì vua ăn và chia cho các quan phần thịt tế gọi là quỹ. Nếu chỉ có thế là đủ để bù vào chỗ huỷ bỏ cuộc đại ẩm trong trống quân thì đã có những lễ Bát Chá và Na gọi là trừ tà cuối năm để đón năm mới nên có ăn uống linh đình.   Ban đầu Bát Chá và Na là những lễ đi theo mùa gặt.  Bát Chá là để ăn mừng gặt xong, và thường đặt ở mùa Thu. Sau này được kể như lễ cuối năm đặt ở trục Chí, như vậy là từ trục Phân thuộc Nhân chủ chuyển sang trục Chí chỉ Trời Đất, thuộc Chủ Nô (về hai trục Chí và Phân xin xem bài Xuân Thu trong Ngũ Điển).

Cách giải nghĩa như trên mới hợp tinh thần xã hội học là dùng tục lệ dân gian để tìm hiểu việc tế tự chính thức.  Vì tục lệ có trước và đã đâm rễ sâu vào dân gian không thể phá nên vương triều phải thích nghi.

d.-  Ý nghĩa chữ Nam Giao

Nếu hỏi tại sao lại gọi là Nam Giao, có người giải nghĩa bằng chữ Cao Môi là thần coi việc môi giới ở phía Nam: entremetteur de banlieue du Sud (Fêtes 160), nơi mà các bà phải đến cầu khẩn để thoát nạn không con (trừ kỉ vô tử chi tật) nên chữ giao do cao đọc trại. Trả lời thế là gượng, ấy là chưa kể chữ Nam chưa có giải nghĩa.  Vì thế xin đưa ra một lời thưa khác: là chữ Giao nhắc lại nơi phát xuất là chi tộc Dao: có lối đọc giống chữ Keo mà người Nùng người Thái dùng để chỉ người Lạc Việt.  Lối này giải nghĩa được cả chữ Nam là địa bàn của dân Việt. Dầu sao thì ta cũng đã nhận tên Nam tên Giao,cũng như xưa đã là chủ tịch nhóm Trống Quân, và hai chữ Giao Chỉ là tên thuận lợi nhất để nói lên sự giao thoa giữa hai chỉ: Đất Trời, Đông Nam, Sông Núi, Nữ Nam.

Vì thế tác động Giao có nhiều: giao tình, giao lý, giao ca, giao thân, và đại ẩm là giao với Đất (giao thực hồ địa).  Như vậy ta thấy nói lễ Tế Giao là biến thể của Trống Quân là câu nói có bằng chứng, tuy xét về nội dung đã mất đi nhiều, nhất là thiếu dân gian và bè Nữ nên nét công thể tính, nhưng có lẽ cần thải bớt như vậy để dành cho nhà Vua đặng để trọng thể hóa. Điều đó tốt, giả sử Vương triều đã không cấm Trống Quân mà cứ để nó sống song hành với tế Nam Giao thì mới đúng tinh thần hợp tác giữa Chất gia và Văn gia

Nhưng không may Trống Quân đã bị cấm đoán theo óc Du mục Chủ Nô. Nhưng “ phép Vua thua Lệ làngnên Trống Quân vẫn sống và cùng với không gian và thời gian mà biến đổi, ta cần đặt vào đó cái nhìn tổng quan.

e.- Lột xác phía dân gian

* Không gian và thời gian của hát của Trống Quân

Biên cương của dân gian hát Trống Quân rất rộng từ Hoa Nam xuống tận các đảo Thái Bình Dương, còn thời gian thì có tự rất lâu đời trước vương triều.   Vì thế việc nghiên cứu đòi rất nhiều công sức. Đã có một số học giả lưu tâm và được ông Granet thâu lượm lại ở cuối quyển Fêtes.  Xin trích dịch ra vài triệt tiêu biểu để độc giả thấy sơ qua những hình thái khác nhau của trống quân.

Nhật: Bên Nhật Trống quân biểu lộ trong lối hát đối gọi là Kagai. Đặc biệt là lúc hai bè đang hát bỗng ngưng lại rồi một người trong nhóm nay đứng ra ứng khẩu hát lên một câu, bè kia cũng sẽ có một người đứng ra hát đáp lại: nội dung vẫn là bày tỏ yêu đương. Tác giả có kể ra một số câu mẫu rất nhiều đoạn giống thơ “ Quốc phong “. Lối hát Kagai này vẫn còn được duy trì trong dân gian, tuy giới thượng lưu đã bỏ.

Tibet và Tân Cương (Fêtes 281): Người ta ưa thích cuộc hát hai bè bên Nam bên Nữ đối diện với nhau, vừa hát vừa tới rồi lui lại theo nhịp nhàng được tổ chúc vào mùa Xuân và hát công cộng, không được riêng lẻ, nhưng trong lúc làm đồng áng gieo gặt cũng có thể hát.

Vân Nam (Fêtes 281): Người Lô Lô làm cả ngày tối lại hát đối. Xong ngồi từng đôi tặng rượu nhau. Nữ tặng trai trước, trai tặng lại sau. Cuối cùng ai về nhà nấy ngủ nghỉ mai làm để rồi tối lại hát nữa. Có nói sau khi hát quay quần cùng uống rượu.

Lô Lô (Fêtes 282): Cuối năm có hát mà còn thêm một thứ lửa trại, khởi hát từ lúc đi lấy củi về chụm lửa, sau còn thêm đốt pháo cho thêm rộn ràng. Trong Socio 125, ông Granet nhận xét thơ Lô Lô rất giống Kinh Thi quốc phong.

Miêu ở Vân Nam (Fêtes 283): cũng có trống quân như người Miêu ở Quảng Tây hay người Thổ ở Cao Bằng, hai bè trai gái cầm tay nhau hát theo nhịp trống cơm và  cũng có những câu hỏi ứng khẩu phải thưa liền, thưa không được bị phạt rượu uống cho đến say mèm. Có nơi người thua bị vò tai rất mạnh.

Hải Nam (Fêtes 288): Khi một cậu trai ưa cô nào thì mang đàn đến gẩy trước cửa nhà cô ấy. Nếu cô ưng thì ra. Khi đã thỏa thuận về các khoản rồithì trình lên cha mẹ. Cha mẹ làm lễ cưới tại nhà và cậu trai về ở nhà gái.

Nam Chiếu (Fêtes 288): Nơi đây người ta tin tưởng có những vụ mang thai một cách lạ với rồng nhân lúc tắm hoặc khi ra đến giữa sông thì chạm phải cái gậy rồi có thai.

Người Miêu Tửthêm vào Trống quân trò ném cầu làm bằng chỉ ngũ sắc và đánh trống đồng. Tất cả các sắc dân ở đây cũng như Vân Nam đều có ít nhiều thói tục này.

Các sắc dân Bô Di, Nam Nữ bao giờ cũng hợp Thân trước rồi mới cưới sau. Họ không ưa những người nữ ở vậy, y như ở miền Dương Tử Giang và Hán Thuỷ (Fêtes 291).

Long Châu (Fêtes 293): Các người đi dự mang cơm theo, mỗi lần hội có cả trên ngàn người. Tuy Tục lệ này bị nhà cầm quyền ngăn cản nhưng vẫn lưu hành trong khắp miền Việt Tây (Quảng Tây). Hễ mỗi lần vua quan Tàu cấm thì sinh xôn xao.

Lô Lô ở Quý Châu (Fêtes 295) cũng hát trên núi. Có sự đấu tài hùng biện và thi ca. Những cuộc hội này vẫn còn truyền tụng tuy đang trên đà biến mất.

Bên Java vợ chồng vẫn giao hợp trên ruộng (Civ I 191). Mã Lai cũng có (Fêtes 228).

Dân Dao, Chi Lao, Lê, Bạch Mán, Thái được nói tới nhiều nhất. Tất nhiên Mán, Mèo, Thái, Thổ, Nùng ở Bắc Việt cũng được nói tới, đủ biết biên cương của Trống Quân rất rộng, rộng bằng với cái biên cương của nền Văn hóa Viêm Việt.

G.-  Sự hợp tác giữa Văn gia và Chất gia

Thứ đến có thể nói rằng khắp thế giới cổ xưa đâu đâu cũng có thể tìm ra vết tích một thứ Trống Quân (Civ I 19) nhưng sau đều biến mất hay biến thể trọn vẹn chỉ còn ở Viễn Đông là tồn tại.       Điều đó giải nghĩa được bằng sức mạnh của nền Văn hóa Việt Nho trước sức xâm lăng của Vương triều, nên đã xuất hiện sự kiện duy nhất trên đời là có sự hợp tác giữa Văn gia với Chất gia, nhờ đó mà chúng ta sẽ tìm ra được chiều kích thâm sâu của Trống Quân như sẽ bàn ở triệt sau.   Tuy hai bên sống chung nhưng cũng phải lột xác, trong đó Việt tộc phải bỏ phần bị công kích hơn là hợp Thân ngay trên cỏ, rồi thay vào bằng nhiều trò chơi khác: đánh Đu, bắt Chạch, bắt Dế, ném Cầu.… Phần nổi nhất còn lại là hát Đối, là nơi nhận được nhiều sự hợp tác giữa Thôn dân và Kẻ sĩ. Vì phần hát đối này được biểu lộ sâu xa nhất trong Lạc Việt nên chúng ta sẽ theo dõi cách riêng.

H.- Trống quân đối với Lạc Việt

Sở dĩ hát liên hệ mật thiết với Trống Quân vì Trống Quân chính là đạo Trời Đất, hay nói cách khác là Lễ hòa hợp Trời Đất nên cần tiết nhịp như Đất cùng Trời, nhất là Trời.

Tiết Trời thì như Sáng với Tối, Xuân với Hạ, Tiết Đất thì như Đông với Nam, Sông với Núi. Vậy mà hát cũng đầy nhịp, có thể nói đó chính là nhịp nghĩa là chưa cần đến lời thì Nhạc đã khởi sự có từ lúc có nhịp.

1.- Việt ngữ hợp với Trống Quân

* Giàu song ngữ, có tính chất co dãn

Vậy ngôn ngữ nào giàu nhịp nhàng nhất cũng là giàu Nhạc tính nhất, do đó hợp với Trống Quân hơn cả.  Thế mà trong các nhóm Nam Man, Việt ngữ là một trong những tiếng giàu song ngữ nhất: thanh thanh, nhẹ nhõm, vàng vọt, lung tung, lè phè, tà tà.. . 

Tiếng thêm sau có khi để tăng gia phẩm tính như vàng hoe, đo đỏ hoặc để bớt đi như tim tím, vàng vàng, đo đỏ.   Nhưng nhiều khi thêm vào coi như là để cho có vậy thôi. Rõ nhất là trong vần iếc: ăn iếc, yêu iếc, học hiếc, chơi chiếc, hôn hiếc.…  

Nhờ những tiếng  “ song trùng đó  “ mà Việt ngữ có một số nét đặc trưng như sau:

Thứ nhất phải kể đến nét co giãn làm cho nó biến hóa vô cùng mà hình thức đầu tiên là nói lại.

Riêng tiếng nhị âm mới nói lái được, đa âm như Tây hay độc âm như Tàu đều không có nói lái.  

Tây thì đã rõ: dù có tiếng hai âm nhưng không là bản chất của tiếng, nên không nói lái được, thí dụ maison mà lái ra son/mai thì hết nghĩa; còn Việt mà nói nhá cài ai cũng hiểu liền là cái nhà.   Tiếng Tàu không thể nói lái. Lối ký âm trong tự điển kiểu Ngô Hoàn chiết đọc là Ngoan không phải là nói lái. Tiếng Tàu đôi khi kể một hai tích nói lái thì quá cầu kỳ (xem Vân Đài Loại Ngữ quyển VI, câu 42 có cho một thí dụ dài lê thê).  Có lẽ vì thế Tàu ưa dùng lối đồng âm. Con dơi Tàu đọc là Phúc nên vẽ hình dơi để chỉ chúc Phúc, vẽ con Hầu để chỉ Hầu tước.

…* Giàu Nhạc tính

Tính chất thứ hai là giàu Nhạc tính đến độ nói thông thường đã có Nhạc tính rồi, như nhận xét của nhiều người ngoại quốc rằng: nói tiếng Việt đã là ca hát.  Có thể vì đó mà ta có những danh hiệu đồng hóa được với ca hát chăng như Lạc và Dao, Lạc cùng với Nhạc viết như nhau (nhạc giả lạc dã) còn Dao thì là ca dao, có thể hiểu là tiếng hát của người Dao hay Giao Chỉ. (Tàu viết Dao, Diêu, Giao khác nhau mà thấy chua là yao cả).

* Nói như Thơ, Thơ như Nói, Nói, Thơ đều để Ve

Tính chất thứ ba là nói với Thơ hầu như một gieo vần ngay trong câu nóicó mới nới cũ, cây giây quấn ( leo) “  Vậy mà đó là thể lệ trong lúc hát Trống Quân. Trong đó nói bằng Thơ, hỏi bằng Thơ, thưa cũng phả bằng Thơ. Thế mà hầu như không ai cho đó là chuyện khó. Hỏi là thưa liền, ứng khẩu thành Thơ. Đây là chỗ phải nói về . Vè là một lối ở giữa Thơ và Nói.   Nói như Thơ, Thơ như Nói, rất hợp cho Trống Quân.

Nên ghi ra đây như giả thuyết làm việc là vè do chữ ve mà ra, mà ve là ve gái:vẻ vè ve bắt vè con nhện “ .   Và khi đã có sự ưng thuận thì bắt về. Ai bắt về? Bắt về đâu? Thời xa xưa là Gái bắt Trai. Người đàn bà Radhé hiện còn nói “ không đủ tiền đi bắt cái Chồng” .  Sau này khi phụ hệ lên chân thì Trai bắt Gái. Xa xưa nữa là bắt cóc.   Sau này bỏ tục bắt cóc thì vẫn còn một vài nơi giữ một số nghi thức để giả đò bắt cóc. Theo đó câu truyện Sơn Tinh Thuỷ Tinh là bắt gái về núi.

2.- Triết lý “ Chí Trung Hòa “ trong cách gieo vần Thơ

Một điều cần phải nhấn mạnh cho Tâm thức hiện nay hay khinh thường những cái giản dị, tưởng vè dễ quá nên không có gì cao sâu, sự thực là không thiếu cao sâu cả trong Thơ lẫn trong Tiết nhịp.

Thứ nhất về Thơ thì vè là Thơ không những trong tiếng đôi mà luôn trong câu đôi, đó là lục bát so le làm nên nhịp câu. Cả nhịp tỏ trong từng từ (6-8) lẫn nhịp ngầm trong cặp đôi từ (3-4).  Còn Triết lý thì nó ẩn trong một nét lạ lùng là gieo vần trên lưng câu sau:

                                    Trăm năm / trong cõi / người ta

                                    Chữ tài / chữ mệnh / khéo / ghét nhau.

Triết lý ẩn bên trong sự vụ là tinh thần Chí Trung Hòa của nền Văn hóa Đông Nam: theo cung Ngũ hành thì Đông số 3 chỉ Trời, Nam số 2 chỉ Đất. Đất cũng chỉ bằng các số chẵn khác như 4, 6, 8. Số 3 Trời đi với 2 Đất thì ra số 5 trong Ngũ hành. Số 3 đi với 4 thì ra bánh Trời bánh Đất.

Áp dụng nét song trùng vào hai số 3, 4 thì ra 6-8. Đó là số của thể thơ lục bát.

Nên thể thơ này gọi được là thể thơ riêng của nước, y như bánh Dầy, bánh Chưng, hay con số Vài Ba, bào thai của Ngũ hành vậy. (1)

(1) Lần viết đầu tiên tôi móc nối câu thơ với quẻ Chấn Li (xuất chấn hướng li). Chấn số 4 Li số 3 nhân đôi thành 8-6. Nhưng sau xem lại sự móc nối đó không uyển chuyển bằng móc nối với ngũ hành.

3.- Trống Quân với nhịp song trùng  ( Song trùng lưỡng hợp: Dual unit ) của Việt.    Nói theo Tiên thiên thì là “ 3 Trời 2 Đất “ ( Tham Thiên lưỡng Địa nhi ỷ số:Tỷ lệ Hoà của cách hành xử theo Tình Lý ) . Tức là bao hàm được Tiết điệu Vũ trụ vừa trong hai câu thơ, vừa trong từng cặp đôi Tiếng, vừa trong bước chân Vũ tức là Tiết nhịp đầy ắp, nên câu Thơ lục bát nói lên cái nhịp của Trống quân hơn hết, cũng là nhịp song trùng đã xuất hiện với dân tộc từ mãi xa xưa.   Bởi đó khi đọc lên những tiếng đi đôi nó gây cho ta cảm giác man mác nhiệm mầu là do cái Tiết nhịp cũng như Thể thơ và Triết lý tàng ẩn bên trong.

Vì xuất hiện quá sớm nên khi Hoa tộc vào nước Tàu thì không đổi nữa mà chỉ còn cách thích nghi.   Trước hết bằng đưa vào tiếng Tàu nhiều cặp song ngữ. Mở đầu Kinh Thi đã thấy hai chữ quan quan (thư cưu) rồi kể tiếp biết bao tiếng khác:

                                    Đào chi yêu yêu

                                    Săn săn hề

                                    Hoàng hoàng hề

                                    Ân ân, điền điền.

Những tiếng đôi đó có đầy trong Kinh Thi.… Ông Granet đã thu thập vào trong ba trang lớn rồi nhấn mạnh rằng những cặp chữ đôi đó gợi là cái gì cụ thể như những bức họa bằng lời: Comme de véritables peintures vocales (Socio 114).

4.- Tiếng ngân nga của Việt và Hư tự của Tàu

Việc thứ hai là đưa các Hư tự như các chữ Tư, Hĩ, nhất là Hề lên bậc từ chính cho chiếm một chỗ trong câu Thơ. Điều đó với tiếng Việt không cần, nên những tiếng ngân nga (í, a, tình, tang, tính) đứng ngoài Thơ là vì tự nhạc đến Thơ không gặp khó khăn nào như đã nói trên về vè.

Còn Tàu thì gặp khó khăn khi thơ muốn tách khỏi nhạc, nên phải dùng nhiều Hư tự. Sau này Ly Tao dùng Hề thả dàn là do Thơ đã gần tách hẳn khỏi Nhạc để sống độc lập, nên phải thêm tiếng Hề để người đọc có cảm tưởng Hát, mà đồng thời cũng là chấm câu dùng lời thay cho dấu chấm.  Chữ Nho không dùng dấu chấm câu là do chịu ảnh hưởng quá nặng văn Trống Quân đó.

Còn lại mấy cái khác như nhịp câu thì Tàu không có mấy thành công. Kinh Thi hầu hết câu 4 chữ. Sau này chỉ có thơ Ngũ ngôn, Thất ngôn, vẫn gieo vần ở cuối cả. Không có nhịp từng cặp Từ.

Sài Ung đã cố đưa thể Tứ lục vào thơ Trung Hoa nhưng không được phổ biến, vì không phải Cơ cấu của tập thể mà là của một cá nhân. Thứ đến câu 4 quá ngắn không đủ diễn tả tư tưởng cách đầy đủ, nên không chơi nổi vai trò tiếng nói thông thường như thể Lục bát. Ấy là chưa nói tới cái vụ câu 4, không theo lối gieo vần trên lưng câu 6 nên thiếu chiều sâu của Triết lý.

I.- Lạc Việt là Chủ Trống Quân

Trên đây là thử phác họa sơ sài ảnh hưởng Trống Quân trên ngôn ngữ và do đó trên tư tưởng của Tàu, một nền tư tưởng xây trọn vẹn trên cặp đôi Âm Dương mà Âm Dương chỉ là kiểu thức hóa các cặp đôi trong Trống quân.

Vậy tiếng Lạc Việt vốn đã là cặp đôi nên có lý do chân chính để nói Lạc Việt là chủ chính của Trống Quân.

 Câu chuyện Âu Cơ đưa 50 con lên Núi, Lạc Long Quân đưa 50 xuống Biển với hai cái Tết mồng 5 tháng 5 xuống Nước, nên có cuộc đua Thuyền, và Tết Trùng cửu ( mồng 9 th áng 9 ) là lên Núi gọi là Đăng cao để hái hoa Vạn thọ để chỉ thu thường, có thể giải nghĩa là phát xuất từ nguồn gốc xa xưa của Trống quân. Vì tổ chức đúng chỗ thì khi khỏi hát một bên từ Núi xuống một bên từ Sông qua. Khi ca dao nói:

                                    Công cha như núi Thái Sơn,

                                    Nghĩa mẹ như nước trong Nguồn chảy ra.

Thì nền tảng siêu hình phải là cặp song trùng Sơn Xuyên nọ. Chính cặp đôi đó đã làm nền cho 8 quẻ Kinh Dịch vì cả 8 có thể quy vào hai thực thể là Núi và Nước.

                        Núi: lửa, gíó.      Mẹ = cấn, li, tốn, khôn

                        Nước: sấm, ao.    Cha = khảm, chấn, đoài, kiền

Khi mẹ ông Bành Tổ giở nách Tả sinh ra ba con, giở nách Hữu sinh ra ba con nữa, cũng như 6 anh em Hi Hòa: 3 bên Tả 3 bên Hữu đều phải quy chiếu vào cặp Nước Non sơ nguyên nọ mới hiểu được mối liên hệ nằm ngầm. Còn khi bỏ Huyền thoại mà nói bóng thì ra:

                                    Quốc tắc ỷ Sơn xuyên

                                    Sơn băng Xuyên kiệt

                                    Vong quốc chi trung dã (Sử Ký II 278).

Nước dựa vào Núi Sông: khi núi lở sông cạn thì đó là điểm triệu báo hiệu nước sắp mất, nên có niềm tin truyền đời như sau:

                                    Sông Nghi sông Lạc cạn nhà Hạ mất,

                                    Sông Hà cạn nhà Thương tiêu.

                                    Núi Thái Sơn sụt là điềm nguy khốn.

Vì Sông Núi chính là biểu tượng Trời Đất, cũng như 2 quẻ Kiền Khôn là hai trụ cột cho nền Đạo lý giữ nước. Đó là điều chúng ta phải hiểu khi “ đứng lên đáp lời Sông Núi”. Đó cũng là đứng lên đáp tiếng gọi của Tiên Rồng, của con người Tiểu ngã đứng lên đáp tiếng gọi U linh của Nguyên Tính. Có thấy mối liên hệ sâu xa đó mới nhận ra giá trị Nghệ thuật ẩn trong thể Thi lục bát Trống quân. “   

K.- Trống quân trình bày một Vũ trụ sinh sinh hoá hoá

( Văn Lang vũ bộ: 6.- Trống Quân là một cuộc lễ. Kim Định )

 “ Sau khi đã biết tiến trình giao thoa của hai nền Văn hóa Nông, Du, sau khi đã hiểu lý do vì sao Du mục cấm đoán hay bôi xấu Trống Quân, sau khi đã hiểu sự sống dẻo dai của Trống Quân xuyên qua nhiều thời đại trong một biên cương bát ngát hẳn không còn ai phải ngạc nhiên nữa về câu nói Trống Quân vốn là một cuộc Lễ, trái lại cơ thể yên lòng tìm hiểu đến chỗ thâm sâu của nó.  Ai cũng biết Tế tự là rốn của Tôn giáo, mà Tôn giáo là để kết hợp với Thượng Đế. Hiểu theo nghĩa cao siêu hơn hết Thượng Đế là cái toàn thể u linh nên việc gì bất cứ nếu giúp con người kết hợp với toàn thể u linh thì là Tế tự. Vậy mà đó là ý chính của Trống Quân trong buổi sơ nguyên.

Hát Trống quân là để Hòa hợp với Trời bằng Ca hát nhịp nhàng.

Thứ đến là Hòa hợp với Tha nhân trong mối Tình sâu thẳm hơn hết là hai người Trai Gái hợp thân.

Ba là Ăn với Đất bằng Đình Đám vì thế phải nói không những là một Lễ nhưng là Lễ trọng nhất, đầy đủ nhất. Nó trình bày một Vũ trụ quan của “ Hóa Nhi đa hí lộng “ hay một Vũ trụ sinh sinh hóa hóa. Rồi một Nhân sinh quan cũng theo nhịp Vũ trụ

Cá nhân có ăn uống, dòng tộc có hợp Thân giúp Trời Đất sinh hóa là sinh con và nuôi dưỡng giáo hóa. Vì thế đó là Lễ Phong Nhiêu

Có hai lối hiểu, một lối Bái vật là năm nào không có Trống quân, không có hợp Thân trên ruộng, năm đó mất mùa. Còn một nữa thăng hoa theo lối Tâm linh gọi là giúp Trời Đất hóa dục: “ Tán thiên địa chi hóa dục “.

Tức nói lên sự đóng góp của con người vào cái Tiết nhịp cao cả của Vũ trụ để làm nổi bật lên mối “ Thiên Nhơn tương dữ “  đã được đổ khuôn vào thuyết Tam tài.  Đó là một Vũ trụ quan thống nhất bao gồm trọn vẹn cả Kinh tế, Chính trị, Tôn giáo, Ăn, chơi, Hát, xướng.

L.- Trống Quân thoả đáp được ba nhu yếu nền móng của con Người

Con người thời nay quá quen với ý niệm Nhị nguyên tách rời không thể chấp nhận được sự đi đôi của Du hí với Tế tự, nhưng với quan niệm Nhất nguyên lưỡng cực thì chỉ có một toàn thể không có gì Tục với Linh, nhưng Linh bao hàm Tục y như Nội Ngoại gắn bó vậy.

Cho nên Chơi cũng là thành phần của Lễ, vì Chơi biểu lộ Bản chất con Người hơn hết ở chỗ nó siêu thoát, không còn cầu lợi nữa nhưng đã nhô đầu vào cõi An hành là đợt đầu tiên để kết hợp với Toàn thể u linh.

Cho nên hiểu theo Vũ trụ quanThiên Địa vạn vật nhất thể bất phân ly thì Trống Quân dù có đi kèm với những cuộc du hí, ăn uống linh đình vẫn không mất chút nào tính chất cuộc Tế lễ của nó cảTrái lại càng biểu lộ đến cao độ nền Minh triết thâm sâu vì đã thỏa đáp được cả ba nhu yếu nền móng của con người: “ Thực, Sắc, Diện, Thiên tính dã “.

M.- Trống Quân: Cuộc Lễ đủ Tam tài

Xưa nay Lễ hay bị quan niệm quá cao khi chỉ hiểu là cuộc kết hợp với Thượng Đế trừu tượng ngự trên cao xanh. Vậy là lệch lạc vì mới có hàng Dọc lý trí khô cằn. Hoặc lại hiểu theo kiểu tả truyện “ Lễ là để điều chỉnh việc dân “ . Vậy là mới có hàng Ngang.  

Lễ mà đầy đủ phải có cả Ngang cả Dọc: cả Trời, cả Đất, Người đều tham dự.

Nói khác là cả Ý, Tình, Chí phải được thỏa thuê mới đúng câu: sử Thần Nhơn Bách vật vô bất đắc kì cực ( làm cho cả thần, cả người, cả vạn vật đều được thỏa thích cùng cực). Fêtes 189.

Câu này nói về Lễ Bát Chá, là Lễ bế mạc mùa gặt mà sau này đổi ra Lễ tất niên, trong đó có cuộc đại Ẩm là nét còn ghi lại dấu trong Trống Quân, khiến mọi người được no say nhảy múa như điên ( Quốc chi Nhơn giai nhược cuồng ) điều đó bị người theo thuyết Thanh giáo khắc nghị khinh chê, nhưng thực ra đó mới là bản chất của Lễ, cũng gọi là Tiết, ta đọc là Tết.

Lễ hay Tết phải có một cái gì qua mức thường để biểu lộ sự thoát khỏi quy ước thường nhật; đó là một yếu tố quan trọng của Lễ. Toute fête est un excès là câu nói mà con người thời nay không hiểu nổi nữa vì bị đè nặng dưới ảnh hưởng của Thanh giáo.  Còn ở thời Sơ nguyên khi chưa bị những quy ước trái khoáy của Du mục bẻ quặt thì Trống Quân là một cuộc Tế lễ toàn vẹn có ăn uống, hát xướng, giao hoan và do đó nó gây âm vang sâu thẳm vào lòng con Người đến độ chỉ huy cuộc sống trong cả năm, từ ý nghĩ, việc làm, lời nói, nó gây sức mạnh đến nỗi mọi lời khác đã qua đi nhưng những lời hát trong Trống quân được giữ lại, như Ca dao Tục ngữ hay nếu đã có Văn học thì như Kinh Điển.

Kinh Thi chính là kết nạp những bài đã hát trong Trống Quân ( Fêtes 224 ). Còn trong Việt thì Trống Quân kết tinh vào Trống Đồng. Trống Đồng không chi khác hơn là tinh tuý Trống Quân, nơi  Mẹ Âu Cơ Tiên đang lao xuống miệng Rồng là Bố Lạc.

N.- Hát Trống Quân: Lối thông giao với nguồn Tâm linh

Đây là chỗ cần đặt câu hỏi tại sao lại nói Trống Quân. Có nên viết là Chống Quân với ý nghĩa hai đạo quân chống nhau chăng: opposer toupes? (như ông Nguyễn Văn Huyên đề nghị trong Chants alternés p.29). Thưa viết chống không hẳn sai nhưng muốn toàn vẹn phải nói Trống Quân với ý nghĩa để Trống.  Y như cái Trống Trời Trống Đất phân hai bè Nam Nữ cũng để trống mặt.  Và sau này khi đã làm thành Trống , Trống cũng để Trống một mặt gọi là Trống Bộc (Huyên 28) tức là Trống của dân Bách Bộc (trên Bộc trong Dâu) cũng như Trống Đồng cũng phải để một mặt trống mới đúng tên là Trống, là “ Thần cổ đánh ở kinh đô Việt mà tiếng ngân mãi tới Lạc Dương “.   Đó là để nói lên lối thông giao với toàn thể u linh vốn là vô biên là cái không thể diễn tả mà chỉ biểu lộ bằng Nhạc, bằng sự Im lặng, bằng Trống rỗng Tâm hồn.

Vì lẽ đó cái Trống phải để Trống một đầu, sau này người ta mất ý thức nên bịt luôn hai đầu, mà vẫn cứ kêu là Trống, là đánh Trống, mà thực ra là đánh Bịt, đánh Bùng, đánh Lùng bùng vòng ngoài đối kháng làm ra hai bè chống nhau mà không biết đến vòng Trong sinh sinh nội tại.

Như thế là sa đọa tự Nhất nguyên Lưỡng cực đốc ra Nhị nguyên bịt kín: chọn một bỏ một theo kiểu biện chứng, ý hệ , không còn hợp với Dịch lý kết hậu bằng quẻ Vi tế, tức để Trống đầu cuối cho nó mở sang cõi Vô biên.  Y như Hội họa mà đi đến cùng kỳ cực phải như Mã Viễn “ vẽ bằng không vẽ “  tức biết phối hợp cảnh vật với quãng Trống lúc ấy đóng vai vô biên. Chính sự hiện diện của quãng Trống kể như một thực tại Vô biên đó đem lại cho bức họa nét trầm hùng bi tráng không tìm thấy ở nền hội họa nào khác như René Grousset nói về bức họa “ chiếc thuyền câu trên ao thu “  của Mã Viễn “ une des oeuvres les plus poignantes de la peinture de tous les temps “  (La Chine et son art p.177, 186) vì nó cũng nằm trong một nền Triết lý của quẻ Vi tế tức của cái Trống, cột trụ của Trống Quân. “

___________________________________________________________________

TRỐNG QUÂN

Nguồn internet [ tài liệu trong nước  ]

Danh từ Trống quân

            Trên internet chúng tôi thấy chú thích Trống quân là military drum tức là Trống thúc quân.

Ngày xưa vào thời Hai Bà Trưng  Dân tộc chúng ta đã dùng Trống Đồng thúc quân đánh với Mã Viện, hai Bà thua trận. Mã Viện tịch thu Trống Đồng và dùng để đúc ngựa, vì ngựa là phương tiện di chuyển của đoàn quân Du mục phương Bắc có nguồn gốc từ quân Mông Cổ ( Quân Mông Cổ đánh bại nhà Tống mà lập lên nhà Nguyên bên Tàu ).

    . Chúng ta biết Trống Đồng không những là Cổ nghệ mà là còn là Biểu tượng  của Văn Hoá Việt Nam: Việt Nho.      Chúng tôi đã có viết bài “Giải mã Trống Đồng và cuốn  Việt Nho với nan đề cua Dân tộc và Nhân loại  để giải thích các biểu tượng Văn Hoá Việt trong Trống Đồng, cả hai đã được đăng trên vietnamvanhien.net

 Còn Trống quân cũng là Biểu tượng của Văn Hoá Việt Nam, chúng tôi tìm thấy  Cơ cấu của Văn Hoá Việt Nam ở trong  Tiết nhịp  hát Trống quân: 2- 3, 5  ( Bộ Huyền số về Cơ cấu của Việt Nho ).

Lời Ca của hát Trống quân xưa, có câu:

Trống quân anh đánh nhịp ba
Khi vào nhịp bảy khi ra nhịp mười

Cũng giống như khái niệm nhịp một, các khái niệm nhịp banhịp bảy… được dùng đơn thuần để chỉ số lượng âm thanh trong mỗi mô hình Tiết tấu trống quân.

tq_BTH10

Đây là quan niệm phổ biến trong nhiều thể loại âm nhạc cổ truyền Việt Nam. Nó khác hẳn với quan niệm về nhịp trong nhạc Tây phương.

_____________________________________________________________________________

Nhịp một   1  1         Nhịp Ba  1 2 3        Nhịp  năm   1 2 3 4 5

                                               Số 2                         số 3                                 số  5

            2 – 3 . 5  là Cơ cấu và Nội dung của Việt Nho. Văn Hoá Thái hóa của Tổ Tiên Việt

2:  Dịch lý Âm Dương Hòa, nền tảng của Triết lý An vi; Triết lý Hòa giải Văn Hoá Việt .

3 : Tam tàiThiên /  Địa lưỡng nhất = Nhân ( con Người Nhân chủ:tự Chủ,tự Lực, tự Cường )

5: Nguồn Tâm linh: Nguồn năng lượng Tình thương  ( E= mc2 ) sáng tạo ra Vũ trụ

Hy vọng có Vị nào rành  Nhạc phân  tích giùm xem nhịp điệu nhạc trong bài Hát thúc quân của Anh   hùng áo vải  Tây Sơn có liên hệ gì đến các nhịp 2, 3, 5 hay không ?

Để tránh thâm mưu của  Tàu luôn tìm cách tiêu diệt Văn Hoá  của Việt Nam ,Tổ Tiên Việt đã ký thác Cơ cấu hay nền tảng Văn hoá  trong nhiều lãnh vực như :

Cổ vật : Cây Phủ Việt với Bộ huyền số  2 – 3 (  2+3 =5 )

Cổ nghệ :Trống Đồng nhất là Trống Đồng Ngọc Lũ .

Hòn sỏi Bắc sơn vớì 2 đường khắc song song,tượng trưng cho nét Lưỡng nhất hay nét song trùng lưỡng hợp , vì hai đường song song trên mặt cầu, theo hình học mặt cầu Riemannn thì chúng  gặp nhau nên  lưỡng hợp, nền tảng của Dịch  Âm Dương Hòa .

5  Hòn sỏi Ngưỡng Thiều với 3 hòn để thô và 2 hòn  mài nhẳn

Những cái Tước, cái Giả,  cái Đỉnh đồng ,Lư hương đều có 2 tai và 3 chân

Nhà 3 gian 2 chái, nhà  5 gian 2 chái

Trong Ca dao thì có,

            3 bà đi bán Lợn Con

Bán đi chẳng được lon ton chạy về

            3 bà đi bán Lợn sề

Bán đi chẳng được chạy về lon ton

 S 3 được nhắc tớì 2 lần: Số 2

Số 2 : Bán đi / chạy về : cặp đối cực số 2.  Lợn con / Lợn sề: cặp đối cực số 2

Số 5 : ( 2 + 3 = 5 )

___________________________________________________________________________

Đặc biệt hơn hết là Tổ Tiên chúng ta đã sáng tạo ra Văn chương truyền khẩu để chống kẻ thù Bắc phương tịch thu Kinh điển Nho, cũng như đem tinh thần Văn Hoá vào trong mọi sinh hoạt  hàng ngày của nhân dân,qua Phong tục Tập quán, các Hội hè, Hát xướng, Đình đám. . .  Các sinh hoạt Văn Hóa như Hát Trống quân , hát Quan Họ, hát Ví , hát Dặm, hát Chèo, hát Hàng vải và vô  số điệu Hò khác đều là sinh hoạt để duy trì và phát triển  Văn   Hóa của Dân tộc.

CSVN cũng tìm cách hô hào toàn dân đi vào Văn Hoá Dân tộc  để dụ dân đoàn kết mà  tiêu diệt Văn Hoá Nhân bản Dân tộc mà thay vào Văn Hoá Vật bản của Mác Mao mà  ăn cướp toàn dân ! (xem các bài trích dẫn ở dưới )

Thể mà ngày  nay một số trong chúng ta đã Lạc Hồn Dân tộc  Nhân Nghĩa, Bao dung

Kẻ thù phương Bắc và Tây phương ( Pháp) với Văn Hoá Duy Lý đã thành công trong việc cắt đứt mối liên hệ giữa hai thành phần Cựu và Tân  ( generation gap ) của dân tộc chúng ta!

Thế hệ trẻ ngày nay đã từ chối và lãng quên Truyền thống Văn Hóa Dân tộc, đây là sự   mất  Gốc gây ra sự  Phân hóa Dân tộc !

Nhận diện sơ khởi về Trống quân với Văn Hoá Dân tộc

Vua Quang Trung  dùng Trống quân cổ động Quân sĩ đánh quân Tàu  qua bài  Hát Trống quân.

’Đánh  cho  để dài Tóc

Đánh  cho  để đen Răng

Đánh  cho  nó Chích luân bất phản: Đánh cho một cái bánh xe không còn để quay về

Đánh cho  nó phiến Giáp bất hòan: Đánh cho một manh Giáp cũng  không còn lành lặn.

Đánh cho Sử tri Nam quốc  anh hùng chi hữu Chủ  Đánh cho biết Lịch sử nước Nam anh hùng có  Chủ.

______________________________________________________________________

Cấu tạo của Trống quân

Sinh hoạt Văn nghệ Dân gian

Cách tiếp cận sinh họạt Trống quân  ( Tài liệu trong Nước  )

( Nguồn internet )


 ” Theo sử sách, hát Trống quân có quá trình hình thành và phát triển rất sớm, từ thời Triệu Việt Vương,[ I ] ? gắn liền với sinh hoạt cộng đồng trong suốt chiều dài lịch sử của người dân quê “nhãn lồng bổ ngập giao phay, gà con xuống ổ ba ngày nửa cân”.

Tục truyền, hát Trống quân xuất hiện vào đời nhà Trần, thời kháng chiến chống quân Nguyên, binh sĩ khi giải trí ngồi thành hai hàng đối nhau, một bên là “Hát xướng”, một bên là “Hát đáp”, khi hát gõ vào tang trống để làm nhịp[cần dẫn nguồn].

Ngày nay, hát Trống quân đang phát triển ở nhiều nơi và được bảo tồn, lưu giữ khá đầy đủ tại Hưng Yên như các xã: Dạ Trạch [ I ] , An Vỹ, Hàm Tử (huyện Khoái Châu); Tân Tiến, Nghĩa Trụ, Vĩnh Khúc (huyện Văn Giang); Đồng Than (huyện Yên Mỹ); Bãi Sậy, Hoàng Hoa Thám (huyện Ân Thi); Dị Chế, Hải Triều, Thụy Lôi, Cương Chính (huyện Tiên Lữ); Thọ Vinh, Đức Hợp, Hùng An (huyện Kim Động); Việt Hưng (Văn Lâm).

Một số câu lạc bộ ở các xã: Dạ Trạch, Vĩnh Khúc, Đồng Than đã tổ chức truyền dạy hát Trống quân cho thế hệ trẻ để lưu giữ cho mai sau. Đáng chú ý, trên địa bàn tỉnh Hưng Yên hiện có 6 nghệ nhân hát trống quân đã vinh dự được nhà nước phong tặng danh hiệu Nghệ nhân ưu tú.[5]

[ I ]  “ Đầm Dạ Trạch thuộc xã Dạ Trach,  tỉnh Hưng Yên, Chữ Đồng Tử và Tiên Dung vì kết hôn qua mặt nhà Vua nên phải đi lánh xa, xây Thị tứ mà lập nghiệp ở đó.

khi  Vua Hùng thứ ba là  Hùng Quốc Vương  (    Sau Kinh Dương Vương và HùngHiền Vương ( : Lạc Long quân ) sai quân đến hỏi tội, khi đoàn quân triều đình kéo tới bên sông sát thị tứ của Hai Vợ chồng Chử Đồng Tử, thì qua một đêm  cả thị tứ đã dời lên Trời, thị tứ  trở thành cái lỗ trũng, mang tên Đầm Nhất Dạ -Đầm Dạ Trạch – ‘ “  ( Do người  viết  đem vào )

Hát Trống quân ở mỗi địa phương có chút ít khác nhau về làn điệu, cách thức, thời điểm hát nhưng có đặc điểm chung là cách thức hát xướng giống nhau, làn điệu gần giống nhau và sử dụng một loại Trống để đánh nhịp khi hát và đoạn “Lưu không” giữa những câu đối đáp.

Hát Trống Quân phổ biến ở Bắc Bộ thường được tổ chức vào ban đêm trong những tuần trăng tháng bảy, tháng tám âm lịch, ngoài ra còn được tổ chức hát thi vào những ngày Hội. Trong những ngày mùa, những người thợ gặt ở nơi khác đến thường tổ chức hát với trai hoặc gái trong làng hoặc giữa họ với nhau vào buổi tối, lúc nghỉ việc. Hát trống Quân thường được tổ chức ngoài sân nhà hoặc ở bãi cỏ rộng, ở gần Đình làng, giữa một bên là Nam và một bên là Nữ.

Hát dân ca Trống quân chia làm hai thể loại: Hát giao duyênhát thờ, trong đó hát giao duyên gồm các làn điệu: Hát Trống quân, hát Mó cá, hát Đúm, xin hoa đố chữ; hát thờ gồm các làn điệu giáo trống, giáo pháo, thơ nhang. Hát trống quân đa số là hát theo vần điệu lục bát (trên sáu, dưới tám)[6]

Trống quân

Trống quân là một sợi mây dài độ 3 – 4 mét và dày độ 1 cm. Người ta cắm hai đầu sợi dây mây dưới đất bằng hai cây cọc nhỏ bằng gỗ hay bằng tre. Ngay chính giữa sợi mây, người ta đào một lỗ vuông độ 4 tấc mỗi bề, rồi bịt lỗ ấy bằng một miếng ván mỏng. Có khi người ta dùng một khúc tre, một đầu chống lên sợi mây, một đầu chịu trên mặt gỗ.[7]

Trống thùng

Khi hát Trống Quân có Trống dẫn nhịp. Người ta còn gọi là trống này là “Trống thùng“. Trống thùng được cấu tạo như sau: Hai cọc được cắm ở hai bên, một bên cọc là phe Nam, một bên cọc là phe Nữ đứng (hoặc ngồi).

Một sợi dây thừng được buộc vào hai cọc, chính giữa sợi dây đặt một cái thùng, mặt rỗng úp xuống một hố đất nhỏ, mặt đáy trên sát sợi dây. Người ta gõ vào đầu dây ở phía cọc, dây bật vào đáy thùng mà kêu thành tiếng.

Xưa kia, trống thùng làm bằng hai cọc tre cao khoảng 1 mét và một thanh tầm vông gát ngang. Giữa thanh tầm vông người ta đặt một thanh tre vuông góc, một đầu chống lên một miếng ván mỏng được đặt hờ trên một hố đất nhỏ. Khi đối đáp, bên nào hát dứt câu thì đánh vào trống thùng (là phần dây nơi đầu cọc hoặc đầu thanh tầm vông) để làm nhịp “Lưu không“, vừa để thúc giục phe bên kia hát đáp lại.

Tiết tấu

Về Âm nhạc, Trống Quân là một làn điệu gần với tiếng nói hơn. Vì lời ca là thơ Lục bát và mỗi lần hát có thể dài ngắn khác nhau, nên giai điệu biến đổi theo dấu giọng, Trống Quân lấy đối lời làm chính và được diễn xướng ở tốc độ nhanh vừa, lời ca chỉ có vài tiếng đệm nhằm phục vụ cho việc xây dựng giai điệu như: thời, có mấy, hời, ư, nầy, rằng… Đoạn tiết tấu “Lưu không” của hát Trống Quân:

♪♪|♪♬ ♪♪|♩ ♪♪|♪♬ ♪♪|♩

hoặc

♪♪|♩ ♪♪|♩ ♪♪|♪♬ ♪♪|♩

Trống quân:Có đám mây xanh

Trên trời (thời) có đám mây xanh

Ở giữa (thời) mây trắng (ấy)

Chung quanh mây bển vàng ( ư…) – “Lưu không”

Ước gì ( thời ) anh lấy được nàng thì anh ( này )

Mua gạch ( ấy ) Bát Tràng đem về xây ( ư…) – “Lưu không”

Xây dọc (thời) anh lại xây ngang (chứ)

Xây hồ (thời) bán nguyệt (ấy)

Cho nàng chân rửa chân (ư…) – “Lưu không”

Nên chăng ( thời) Tình ái Nghĩa ân

Chẳng nên (này) phi giả ( ấy )

Về dân Tràng Bát Tràng – “Lưu không”

___________________________________________________________________________________________________________________________________________________________________

Các sự kiện sân khấu truyền thống – Traditional Theater Events

December 5, 2016 ·

Lưu không trong chèo

Có thể nói, vai trò của “Lưu không” với nhạc Chèo cũng như hình ảnh cây đa, bến nước trong khung cảnh làng quê Việt. Quen thì đó là hình ảnh thân thương, gần gũi, lạ thì là hình ảnh mang tính đại diện, tiêu biểu, dễ liên tưởng.
Trong cuốn “Tìm hiểu sân khấu chèo”, tác giả Vũ Khắc Khoan viết: “Khi hát hết một sắp trong một điệu hát, theo thường lệ, diễn viên phải ngưng lời ca trong một khoảng thời gian dài đúng 8 nhịp.

Trong khoảng thời gian đó, dàn nhạc vẫn tiếp tục tấu cho xong 8 nhịp, đoạn nhạc không lời đó gọi là Lưu Không”. Khi gặp đoạn Lưu Không, diễn viên thay vì múa đã chỉ được phép đi diễn vòng quanh sân khấu theo đúng nhịp nhạc. Thực tế, còn có lưu không 4, 6, 8, 12 …. nhịp. Trong đó, phổ biến nhất và có hình thức giai điệu đẹp, hoàn chỉnh nhất là lưu không 4, dùng chung cho các điệu Đường trường Tải lương, Quyên đề, Quân tử vu dịch …có giai điệu trữ tình, êm ái; cho các điệu Sắp cổ phong, Sắp qua cầu, Hề mồi thắt lưng xanh… phảng phất nét tươi sáng, vui tươi; cho các điệu Tò vò, Thảm Trần Tình, Ba Than… buồn thảm hay cho điệu Nón thúng quai thao và Hát cách thì rộn rã, sôi nổi… Ngoài ra, lưu không còn có thể kéo dài thành 32, 60, 70… nhịp và độ dài không mang tính cố định, có thể được chính các nghệ sĩ quyết định tùy thuộc hoàn cảnh.
Là kết tinh của tâm hồn Việt, những câu nhạc Lưu không trong nghệ thuật chèo được coi là tinh túy, là những gì gần gũi, yêu thương nhất.

Lưu không là một câu nhạc mang được hình thức tiết tấu trung tâm, những câu nhạc xen giữa hai trổ hát trong một điệu Chèo, có sức truyền cảm đến nỗi với những người không am hiểu vẫn có thể nhận ra đây là làn điệu Chèo.

Tổng hợp: Sự kiện sân khấu truyền thống

https://dotchuoinon.files.wordpress.com/2015/06/trongquan24-copy.jpg?w=672&h=372&crop=1

NHẠC CỤ CỔ TRUYỀN VN – TRỐNG QUÂN/TRỐNG THÙNG

THÁNG SÁU 22, 2015 TRẦN LÊ TÚY-PHƯỢNG ĐỂ LẠI PHẢN HỒI

Đọc các bài cùng chuỗi, xin click vào đây.

Chào các bạn,

Hôm nay mình giới thiệu đến các bạn Trống Quân/Trống Thùng, một nhạc cụ nằm trong họ dây, chi Gõ của Việt Nam.

Trống Quân, còn được gọi là Trống Thùng được sử dụng trong thể điệu hát giao duyên Hát Trống Quân ở đồng bằng Bắc Bộ, thường được tổ chức vào ban đêm, dưới những đêm trăng sáng, trong các dịp hội hè để phô diễn tài nghệ đối đáp trao đổi tâm tình của nam thanh nữ tú.

Trống Quân/Trống Thùng được chế tác bằng cách đào một hố đất hình vuông hoặc tròn, đậy kín bằng một cái thùng gỗ bên trên, phía trên thùng gỗ ngay chính giữa được cắm một chiếc cọc gỗ hình chữ V dựng ngược. Trên đầu của chiếc cọc chữ V dựng ngược được căng bằng một sợi dây mây dẽo chắc, và hai đầu dây mây được gắn chặt xuống đất.

https://dotchuoinon.files.wordpress.com/2015/06/trongquan21.jpg?w=474&h=630

Trống Quân/Trống Thùng trong điệu “Hát Trống Quân”.

Khi diễn tấu nghệ nhân dùng que gõ lên sợi dây mây giữ nhịp điệu. Khi hát dứt một câu, người hát lấy que gõ nhịp vào dây, tạo nên một cung âm rung chuyễn truyền qua cọc xuống chiếc thùng gỗ xuyên xuống hố đất bên dưới. Không khí chứa trong hố đất bên dưới dao động, phát ra âm thanh cộng hưởng “thùng, thình” vang động rất xa.

Chưa có ai khẳng định được Trống Quân/Trống Thùng ra đời vào lúc nào nhưng có một điều chắc chắn rằng Trống Quân/Trống Thùng là một trong những nhạc cụ cổ xưa nhất của Việt Nam chúng ta.

Dưới đây mình có trích đoạn bài “Hát Trống Quân Người Việt” của anh Bùi Trọng Hiền và 1 clip “Trống Quân Dạ Trạch” để các bạn tiện việc tham khảo và thưởng thức.

Mời các bạn.

Túy Phượng

Trống Quân/Trống Thùng.

HÁT TRỐNG QUÂN NGƯỜI VIỆT

(Bùi Trọng Hiền)

Về mặt nghệ thuật, các hình thức sinh hoạt Trống Quân giao duyên có tổ chức bao giờ cũng đi đôi với việc sử dụng một nhạc cụ độc đáo, đó là cái Trống Quân.

Khi làng lập đám hát, việc đầu tiên phải làm là dựng Trống (bắc trống). Trước hết, phải chuẩn bị một sợi dây mây tươi dài khoảng 4,5 – 5m, hai chiếc cọc tre hoặc gỗ dài chừng 35 – 40cm, một thùng gỗ (hoặc sắt tây) có đường kính từ 35 – 45cm, cao khoảng 45 – 50cm và một cái nạng gỗ (làm bằng chạc cây) cao chừng 12 – 15cm.

Khi bắc Trống Quân, người ta ngâm sợi mây xuống nước sao cho nó đạt tới độ mềm dẻo cần thiết rồi đập dập 2 đầu dây và buộc chặt vào 2 cái cọc. Dưới đây là cách buộc dây phổ biến.

Tiếp theo, người ta căng sợi mây ra và

tq_BTH1

 đóng lút 2 đầu cọc xuống nền đất rắn. Họ phải tính toán làm sao để khi kéo sợi dây mây gác lên nạng gỗ đặt trên cái thùng, nó phải đạt một độ căng tối đa để đảm bảo tiếng vang của trống quân.

Ở chính giữa sợi dây mây, người ta lật úp cái thùng gỗ xuống đất, miệng thùng được chêm cách đất để tạo khe thoát âm. Sau đó đặt cái nạng gỗ lên chính giữa đáy thùng và căng sợi dây mây lên đó. Cái thùng có vai trò như bầu cộng hưởng còn chiếc nạng là ngựa đàn.

tq_BTH2

Khi diễn xướng, 2 người hát bên nam và bên nữ bắc nghế ngồi chéo nhau quay mặt vào chỗ chiếc thùng gỗ. Đến phiên ai hát thì người đó dùng dùi gõ vào đoạn dây mây ở gần nạng gỗ, trống sẽ phát ra những âm thanh không xác định cao độ, sắc thái hơi giống với tiếng trống da loại nhỡ, nhưng nghe nhỏ và đanh hơn.

Đoạn gõ dùi

tq_BTH3

Tùy vào truyền thống từng vùng mà trống quân có những sự thay đổi nhất định về cấu tạo. Chẳng hạn có thể không cần dùng nạng chống mà căng thẳng dây mây lên mặt thùng.

tq_BTH4

Có vùng lại dùng cái chum sành thay cho chiếc thùng gỗ.

tq_BTH5

Có nơi, người ta đào hẳn một hố sâu làm thùng cộng hưởng. Trên bề mặt hố, người ta đặt ván gỗ hay một chiếc mâm đồng và ngựa đàn lúc này làm bằng một que chống khá dài.

tq_BTH6

Cũng có khi trong hố, người ta đặt chiếc chum sành và kê ván gỗ lên miệng chum.

tq_BTH7

Ngoài ra, từ đầu TK XX, người ta thường dùng dây thép hay dây đồng thay cho dây mây. Cá biệt, có nơi thay cho dây đàn, người ta còn dùng một thanh tre dài chừng 4 – 5m, gác 2 đầu lên đầu 2 chạc cây. Giữa thanh tre đó, người ta buộc lạt tre (hoặc dây mây) vít thanh tre xuống miếng ván mỏng được cố định trên miệng hố.

tq_BTH8

Nói chung, đây là những dạng cấu tạo trống quân phổ biến nhất đã được nhiều nhà nghiên cứu ghi nhận (6). Có thể thấy, cái trống quân do được tạo dựng trên mặt đất nên nó còn có tên nôm là trống đất. Xin nhắc lại rằng, nhạc cụ này chỉ dùng trong hình thức trống quân giao duyên nam nữ, còn trong hình thức trống quân nghi thức tín ngưỡng (trống quân Đức Bác), nhạc cụ chỉ là những chiếc trống da bò loại nhỏ. Người ta chơi trống bằng 2 dùi và không gọi đó là trống quân. Điều đặc biệt ở trống quân Đức Bác là chỉ có bên nam đánh trống và chiếc trống da luôn được đeo vào cổ bên nữ (7). Vì thế, đôi nam nữ luôn phải quấn quýt bên nhau trong quá trình diễn xướng từ bến sông về đình làng.

Theo cách phân loại ngày nay, có thể xếp Trống quân vào loại nhạc cụ họ dây, chi dùi gõ. Còn người xưa có lẽ căn cứ vào phương pháp kích âm dùi gõ mà coi nó như một loại trống. Điều thú vị ở đây là tên gọi của thể loại đồng thời là tên gọi của nhạc cụ mà thể loại gắn bó. Hát Trống quân giao duyên gắn liền với cái Trống quân, bởi vậy có thể xác định, Trống quân là một nhạc cụ mang tính chuyên dùng.

Ngoài chức năng giữ nhịp và tạo âm nền tiết tấu đệm cho giọng hát, trống quân còn được dùng để đánh dấu sự phân ngắt giữa các câu thơ, giữa các trổ hát. Bên cạnh đó, nó còn khỏa lấp chỗ trống khi người hát chưa kịp nghĩ ra lời ca tiếp theo. Dưới đây là một số mô hình tiết tấu phổ biến của trống quân:

tq_BTH9

Lời ca của hát trống quân xưa, có câu:

Trống quân anh đánh nhịp ba
Khi vào nhịp bảy khi ra nhịp mười

Cũng giống như khái niệm nhịp một, các khái niệm nhịp banhịp bảy… được dùng đơn thuần để chỉ số lượng âm thanh trong mỗi mô hình Tiết tấu Trống quân. [ II]

tq_BTH10

Đây là quan niệm phổ biến trong nhiều thể loại âm nhạc cổ truyền Việt Nam. Nó khác hẳn với quan niệm về nhịp trong nhạc Tây phương.

Chú thích:

1, 4, 7, 8. Thông báo khoa học, Viện Âm nhạc, số 9-2003.
2. Vũ Ngọc Phan, Tục ngữ, ca dao, dân ca Việt Nam, Nxb Khoa học Xã hội, Hà Nội, 1978, tr.581.
3. Xem Phan Kế Bính, Việt Nam phong tục, Nxb Mai Lĩnh, Hà Nội, 1941.
5. Trần Việt Ngữ, Hát trống quân, Nxb Văn hóa Dân tộc, Hà Nội, 2002, tr.31.
6. Trần Việt Ngữ, Hát trống quân, Nxb Văn hóa Dân tộc, Hà Nội, 2002.

Lễ hội :

[ II ] .- Nhịp 2 ( 1, 1 ), 3, 5 chính là Cơ cấu của nền Văn Hoá Thái hòa Việt Nam ( Người trích đăng thêm vào ) ( 1 1  là một cặp đối cực: Số 2 là cặp đối cực của  Dịch lý, 3 là Tam tài, 5 là Ngũ hảnh – nguồnTâm linh- nguồn Tình yêu -)

___________________________________________________________________________

Hát Trống Quân, dễ nhưng mà… khó!

T.G:Vũ Lâm

Theo nhà nghiên cứu Vũ Ngọc Phan lý giải, hát Trống quân có từ thời Trần ( ? ) , do quân lính gõ sạp thuyền hát giải trí trong lúc hành quân, sau này mới truyền vào dân gian. Có thuyết khác lại cho rằng hát Trống Quân là nói chệch từ “ Tống quân ” (tiễn bạn) mà ra. Có thuyết lại cho rằng (Nhạc sĩ Tú Ngọc dẫn trong sách Dân ca Việt Nam, 1994) hát Trống Quân cũng ra đời trong quân ngũ, nhưng lại từ thời vua Quang Trung đem quân ra Bắc… Thực sự, cho tới tận hôm nay, Trống Quân ra đời từ bao giờ còn là điều mà giới nghiên cứu âm nhạc dân tộc chưa khẳng định được cho minh xác…

So những làn điệu dân ca Giao duyên khác như hát đúm, hát ghẹo, hát xoan, hát ví, thì Trống quân là một thể Hát có thể nói là đơn giản nhất về cả Âm nhạc lẫn cách diễn xướng. Nhạc cụ gõ duy nhất là chiếc Trống Quân giữ nhịp, tạo Tiết tấu. Nhưng đúng theo thể cách của những đám hát Trống quân xưa ở Dạ Trạch thì thường dùng cái Thùng gỗ đựng nước mắm của những thuyền buôn mắm ngày xưa, cho tiếng rất vang và ấm.

Loại thùng này bằng gỗ ghép đai mây phết sơn ta, cao khoảng 40cm, đường kính đáy 30cm, đựng được 20 lít nước mắm. Người ta đào một hố Đất, kê mấy thanh tre ngang rồi úp ngược cái Thùng gỗ xuống. Sau đó đóng cọc căng dây mây, sợi dây dài 5m vắt qua một cái chạc chữ V trên mặt đáy Thùng gỗ. Khi hát, người ta cầm dùi Gỗ, gõ vào cái dây mây căng thẳng. Ông Nguyễn Hữu Bổn còn giữ được nguyên một bộ “đạo cụ” từ ngày xưa gồm thùng nước mắm, chạc, dây mây, dùi gỗ, cọc…

Người Hát trải chiếu, Nam một bên, Nữ một bên. Từng đôi một vào hát thì ngồi trên hai chiếc ghế gần Thùng trống, cách nhau sợi dây Trống. Cứ Nam hát xong thì người Nữ hát đáp, hoặc ngược lại, không hát song ca. Vì là hát đối đáp, nên người hát buộc phải hát rõ lời, không có nhấn nhá luyến láy gì nhiều (thì người nghe mới hiểu đúng mà đối lại được).

Xưa, lời hát không chép ra, mà tự thuộc, tự hát, tự ứng biến sáng tác đặt lời ứng đối thử tài đua trí nhau trong lúc hát. Nghe những nghệ nhân Dạ Trạch hát, chúng tôi cảm thấy nó như một thứ nhạc jazz ngẫu hứng và bất ngờ thú vị. Trống Quân Dạ Trạch còn ghi lại được mấy chục bài ca lời cổ và đặc biệt khác hẳn lời Trống Quân các vùng khác… Khi yêu nhau thì hát hay hát ho đã đành, nhưng đôi nào ghét nhau thì có đặt lời hát chửi, có khi nghĩa thì rất tục, mà lại “thanh” vì được chuyển qua lời hát. Ông Bổn còn sưu tầm được cả bài hát chửi. Vừa đọc cho chúng tôi nghe, ông phì cười nói: “Cứ bảo gái Hưng Yên hiền lành… lời lẽ thế này thì ai mà biểu diễn được…”.

REPORT THIS AD

Trống quân Dạ Trạch nghe chậm rãi và tình tứ. Nghệ nhân Nguyễn Thị Thanh Xuyên kể rằng khi đội Trống quân Dạ Trạch đi hát ở Bảo tàng Dân tộc học vào Trung thu năm 2008, một cô phiên dịch viên tiếng Anh nghe bà và ông Mau hát bài Hát thách cưới, nước mắt cứ chảy ròng ròng. Hỏi sao lại khóc, thì cô gái bảo nghe hát mà thương bà ngoại quá. Ngày xưa, cũng vì Cụ ngoại thách cưới cao quá, người bà thương không lấy được, phải bỏ đi, Bà ôm hận suốt một đời. Nhưng lúc nghe bà kể thì chỉ thương chứ cũng không khóc, bây giờ nghe Trống quân lại khóc vì cảm thấu được cái đau khổ của Bà mình…

Trống quân Dạ Trạch bị đứt đoạn năm 1945 (giống như các làn điệu dân ca nơi khác) do biến động lịch sử. Năm 1992, một số nghệ nhân cao tuổi sưu tập lời, khôi phục thành các bài hát đối. Họ lập ra đội trống quân Dạ Trạch, vận động các thành viên tuổi trung niên ở xã tham gia, mời những nghệ nhân từng đi hát ngày xưa tham gia biểu diễn và truyền dạy. Lẽ ra, hát Trống quân thường là thanh niên, nhưng thanh niên xã Dạ Trạch có nghề cân sức khỏe (bằng cái máy đo chiều cao cân nặng ta vẫn thấy người đẩy đi rong ở mọi nơi) nên họ bỏ đi tứ xứ làm ăn. Cả làng có hơn 200 cái cân, đi theo mỗi cái cân là một gia đình, hoặc một thanh niên độc thân, đẩy cân đi cân người khắp nước. Do vậy, đội Trống quân Dạ Trạch chỉ còn những người trung niên và người già. Ông Bổn ao ước: “Chúng tôi đã già, nhưng vẫn phấn son đi hát, lườm nguýt nhau vui đáo để, tuy nó trẻ trung ra nhưng cũng không hợp bằng lớp trẻ nó hát. Mong sao có kinh phí thành lập một câu lạc bộ để truyền dạy cho lớp trẻ, duy trì những lời hay ý đẹp, giai điệu độc đáo của cha ông truyền lại…”.

Ông Bổn, bà Lâm, ông Mau, bà Xuyên hát một lúc thì như quên mấy người chúng tôi ngồi đó. Tuổi họ cũng đã ở xế chiều, hát lại những lời ca trai gái thuở đôi tám ngày xưa, mà tuổi Xuân như ùa lại về làm cho thời gian mất đi, chỉ còn giọng hát ngân lên thanh tao duyên dáng…

Có gì giống nhau giữa Trống quân và cái “clôổng tật”? “Clôổng tật” là tiếng Mường gọi cái “Trống Đất”. Cách đây vài năm, chúng tôi có đến nhà ông nghệ nhân Đinh Văn Nhật ở thôn Nưa Thượng, xã Tân Lập, huyện Thanh Sơn để tìm hiểu về cách làm, diễn xướng Trống Đất và đàn “toòng – tửng” của người Mường. Theo truyền thuyết của người Mường, thì Trống Đất có từ thời vua Hùng. Cách làm Trống khá giống cách tạo Trống Quân. Nhưng khác ở chỗ lấy ngay hố Đất làm hộp cộng hưởng (có bịt mặt hố bằng mo cây bương). Sợi dây vắt qua mặt hố (dùng để gõ lên dây phát ra tiếng) được ghim căng xuống với mặt mo chứ không phải kê dựng lên như Trống Đất. Bình thường, trẻ trâu cũng làm được Trống Đất, nhưng các cụ người Mường xưa cấm, vì sợ đánh lên nó “động rừng”, vì đây còn là cách truyền âm để báo hiệu giặc giã. Các cụ thầy mo Mường khi làm Trống Đất là phải cúng gà, và hợp tấu với đàn “toòng – tửng” để tế bái, chứ không phải dụng cụ âm nhạc để đùa chơi. Nếu như Trống Đất và Trống Quân là một, thì đây là một nhạc cụ tối cổ của người Việt. Bằng vào sự đơn giản trong việc chế tác, và sự phổ biến của lối hát, các gõ Trống như thế khắp miền Bắc, thì hẳn lai lịch Trống Quân có thể là rất lâu đời…

Vũ Lâm

 Trống Quân singing (Vietnamese: [ʈə̌wŋm kʷən], “military drum“)[1] is a response folk song of Vietnam. It is often found in festivals and performed as alternating singing between boys and girls.[1] The male and female singer groups make responses to the song through words, instead of counterpoint singing. As such it is less sophisticated and more open to popular participation than Quan Họ response singing which requires some degree of musical training.[2] Trống Quân songs are often sung by children at village festivals.[3]

banner

Ngày 17 tháng 1 năm 2022

  •  

DANH MỤC DI SẢN VĂN HÓA PHI VẬT THỂ QUỐC GIA

Hát Trống Quân

Hát Trống Quân là sinh hoạt Văn hóa dân gian, bằng hình thức hát Giao duyên của người Việt ở vùng đồng bằng và trung du từ Thanh Hóa trở ra. Nhiều vùng có Hát Trống quân nhưng nổi tiếng nhất là ở Dạ Trạch, huyện Khoái Châu, tỉnh Hưng Yên.

Phần lớn người dân không rõ Hát Trống Quân có từ bao giờ, chỉ biết được cha ông truyền lại và hát đến nay. Tuy nhiên, ở Dạ Trạch, các cụ cho rằng, Hát trống quân có từ đời vua Hùng thứ 3, khi công chúa Tiên Dung gặp và kết duyên với Chử Đồng Tử, khai phá vùng đất này, dạy dân cách trồng lúa, ươm tơ, dệt vải và dạy họ cả điệu Hát Trống Quân. Cũng có người cho rằng, Triệu Quang Phục khi đánh thắng Trần Bá Tiên liền cho quân sĩ ăn mừng bằng cách gõ nhịp ngay trên thuyền, trong những bụi lau sậy tại đầm lầy Dạ Trạch.

Trước Cách mạng tháng Tám, Hát Trống Quân ở Hưng Yên rất thịnh hành, tổ chức nhiều tại làng và giao lưu với các vùng lân cận. Trong kháng chiến chống Pháp và chiến tranh chống Mỹ, Hát Trống Quân nơi đây không còn được trình diễn như xưa, có nguy cơ thất truyền. Sau những năm 1980, người dân các nơi dần khôi phục các hoạt động giải trí, trong đó có Hát Trống Quân. Nhiều địa phương đã thành lập các đội Văn nghệ hay câu lạc bộ, như: Đội văn nghệ thôn Đức Nhuận (năm 1985), Câu lạc bộ Hát Trống Quân Hương Nhãn (năm 2008), Câu lạc bộ Hát Trống Quân thôn Tiên Kiều (năm 2000), Câu lạc bộ Hát Trống Quân thôn Kênh Cầu (năm 2014), Đội Văn nghệ thôn Phú Mỹ, Câu lạc bộ Nghệ thuật truyền thống xã Hùng An (năm 2001), Tổ Hát Trống Quân thôn Đồng Chung (năm 2010), Câu lạc bộ Hát Trống quân lời cổ (năm 2010). Riêng Câu lạc bộ Trống quân ở xã Dạ Trạch, huyện Khoái Châu hiện có 6 Nghệ nhân ưu tú.

Hát Trống Quân là dân ca Đối đáp, Giao duyên, trao đổi kinh nghiệm sống trong xã hội nông nghiệp lúa nước, được tổ chức chính vào dịp Tết Trung thu. Người dân thường tổ chức hát Trống Quân vào dịp nông nhàn, sau vụ mùa thu hoạch. Đây là hình thức sinh hoạt mang tính thời vụ, bởi nó phụ thuộc vào chu kỳ cây trồng Nông nghiệp. Ngoài ra, các làng còn tổ chức hát vào dịp hội làng, như lễ hội đền Dạ Trạch (tháng Hai Âm lịch).

Người hát Trống Quân thực hành ở nhiều không gian khác nhau như: lúc đi cấy, làm đồng, trong dịp Tết Trung thu, trong lễ Hội, đám khao… Trước đây, hát trong đám khao là hình thức sinh hoạt văn hóa của các gia đình có người được phong chức, phong sắc, lên lão… Người ta tổ chức đám hát ở ngay tại sân nhà chủ. Những người hát hay, ứng đối giỏi trong vùng được mời đến hát, gia chủ và dân làng cũng có thể tham gia. Tuy nhiên, đây thường được coi là sân chơi của những người tầng lớp cao, nên giới bình dân ít khi tham dự. Bởi vậy, có thể coi hát trong đám khao là trình diễn mang tính nghệ thuật cao nhất của hát Trống Quân. Và, gia chủ bao giờ cũng treo thưởng cho những người ứng đối tài giỏi nhất, hát hay nhất.

Hát Trống Quân được diễn xướng theo 2 hình thức:

Sinh hoạt mang tính Thi thố, Đối đáp, dân gian gọi là đám hát, thường được tổ chức vào buổi tối, rất hiếm khi tổ chức ban ngày.

Sinh hoạt Tự do, ở mọi lúc mọi nơi, thuộc về những cá nhân đơn lẻ. Người ta có thể hát khi đi cấy, đi làm cỏ, lúc nghỉ bên vệ đường… phần nhiều là để giải trí. Với hình thức sinh hoạt này, người trẻ có điều kiện học hỏi và rèn luyện theo lớp đi trước và hình thành lớp người kế cận.

Hát Trống Quân là dạng Hát nói, hát kể nương theo niêm luật và thanh điệu bằng trắc. Các điệu Hát Trống Quân chủ yếu là thể Lục bát, Song thất Lục bát hay Thất ngôn bát cú biến thể chút ít. Khi diễn xướng Trống Quân, người hát phải biết “phát tiếng”, “nhả lời”, chuyển âm tạo điệu. Chủ đề thường ca ngợi Quê hương Đất nước, Lao động sản xuất, Tình yêu đôi lứa, các điển tích Văn học…

Một đặc điểm khác khá đặc trưng của diễn xướng Trống Quân là có hiện tượng thay đổi cấu trúc lời thơ, đặc biệt ở Dạ Trạch, người hát thường hát trước 4 từ sau của câu 6 ở đầu mỗi lần hát và hát trước từ thứ 8 của câu 8 trước từ thứ 7 ở cuối mỗi lần hát. Hiện tượng này là thủ pháp nhấn từ, nhấn mạnh vào cụm từ 3-4-5-6 và từ 8, cụ thể: câu lục mở đầu là 3-4-5-6/1-2-3-4-5-6; câu bát kết thúc mỗi trổ (người địa phương gọi là câu đổ) là 1-2-3-4-5-6/8-7-8. Đây được coi như một thủ pháp nghệ thuật đặc biệt, đôi khi gặp ở Hát Trống Quân phổ biến hay thể loại nhạc cổ truyền Bắc Bộ khác nữa. Tuy nhiên, nó không trở thành một hiện tượng mang tính quy luật như ở Trống Quân Dạ Trạch. Khi câu đổ vang lên là dấu hiệu báo kết trổ để bạn hát đối đáp chuẩn bị nhập cuộc, tiếp nối.

Để thực hành Hát Trống Quân, không thể không kể đến việc chế tác Trống Quân, ngôn ngữ âm nhạc, lối hát, phương thức diễn xướng.

Về chế tác Trống Quân:

Theo các nghệ nhân, khi làng lập đám hát, việc đầu tiên phải làm là dựng Trống (bắc trống). Trước hết, chuẩn bị một sợi dây mây tươi dài khoảng 4,5 – 5m, hai chiếc cọc tre hoặc gỗ dài chừng 35 – 40cm, một thùng gỗ (hoặc sắt tây) có đường kính từ 35 – 45cm, cao khoảng 45 – 50cm và một cái nạng gỗ (làm bằng chạc cây) cao chừng 12 – 15cm. Dây mây được ngâm nước để đạt tới độ mềm dẻo cần thiết, rồi đập dập 2 đầu dây và buộc chặt vào 2 cái cọc. Cọc được kéo căng sợi mây ra và đóng lút 2 đầu xuống nền đất rắn. Giữa hai đầu sợi mây là thùng gỗ lật úp, được gia cố bằng 3 đai tre, miệng thùng được chêm cách đất để tạo khe thoát âm. Sợi mây được gác lên nạng gỗ đặt giữa đáy thùng, căng tối đa, để đảm bảo tiếng vang của Trống Quân. Nghệ nhân vừa căng dây, vừa điều chỉnh âm thanh cần thiết. Cái thùng có vai trò như bầu cộng hưởng còn chiếc nạng là ngựa đàn. Khi diễn xướng, 2 người hát bên Nam và bên Nữ bắc nghế ngồi chéo nhau quay mặt vào Thùng gỗ. Đến phiên ai hát thì người đó dùng dùi gõ vào đoạn dây mây ở gần nạng gỗ, trống sẽ phát ra những âm thanh không xác định cao độ, sắc thái hơi giống với tiếng Trống da loại nhỡ, nhưng nghe nhỏ và đanh hơn.

Hiện ở Dạ Trạch, nghệ nhân vẫn dùng dây mây, nạng để căng trống. Tuy nhiên, họ dựng trống bằng cách đào một hố sâu khoảng 20 – 30 cm, đổ vỏ ốc xuống, bắc hai thanh tre lên miệng hố và úp thùng gỗ lên, chia đều dây mây buộc hai đầu dây vào hai cọc, úp nạng gỗ xuống và nâng dây mây lên trên nạng cho cân. Hoặc để thuận tiện khi trình diễn theo sân khấu hóa, họ không đào hố mà dùng miếng gỗ dài 5 – 6m để đặt trống lên trên. Một số địa phương khác, nay không làm Trống Quân mỗi khi có đám hát, mà chuyển sang dùng Trống bịt da hai đầu và dùi gõ trực tiếp.

Ngoài chức năng giữ nhịp và tạo âm nền tiết tấu đệm cho giọng hát, Trống Quân còn được dùng để phân ngắt giữa các câu thơ, các trổ hát. Bên cạnh đó, nó còn khỏa lấp chỗ trống khi người hát chưa kịp nghĩ lời ca tiếp theo.

Về ngôn ngữ âm nhạc:

Giống như ở nhiều vùng từ đồng bằng đến trung du, các bài Hát Trống Quân ở Hưng Yên cũng thuộc loại nhịp chẵn  ( Twofoldness;nét gấp đôi ) (nghĩa là có sự luân phiên đều đặn giữa phách mạnh và phách nhẹ). Một số câu hát có lời ca trùng khớp với những câu hát của các loại hình âm nhạc dân gian khác.

Hát Trống Quân ở Hưng Yên có lúc dùng nhạc cụ đệm (Trống Quân) trong đám hát, có lúc không (khi hát Trống Quân tự do). Trống Quân trong đám hát có nhiệm vụ giữ nhịp với những âm hình, tiết tấu khác nhau, thường thống nhất ở tính trữ Tình/bình ổn. Các dạng Tiết tấu không chỉ “đệm”, “làm nền” cho giọng hát, mà trong nhiều trường hợp, còn giữ vai trò “Lưu không” khi thay đổi các giọng hát (từ giọng Nam sang giọng Nữ hoặc ngược lại). Giai điệu của hát Trống Quân gần với ngữ điệu của Tiếng nói, Lời được chuyển tải từ Thơ.

Về lời hát:

Lời ca của Trống Quân là tiếng nói Tâm tình, ước vọng về một cuộc sống tươi đẹp, thể hiện trí tuệ của người lao động trước những hiện tượng tự nhiên và xã hội. Do bản chất của Hát Trống Quân là hình thức hát Đối đáp Trai Gái nên Tình yêu Nam Nữ vẫn là chủ đề nổi bật nhất, biểu hiện ngay từ cách xưng hô: anh – em, chàng – nàng, ta – mình giữa các cặp hát.

Về phương thức diễn xướng:

Hát Trống Quân có thể diễn xướng khi đi làm đồng, trong hội hè, ở đám khao… Trong từng trường hợp nhất định, trật tự các bài Hát Trống quân có thể khác nhau, tùy theo nội dung của câu hát, bài hát: hát Chào, hát Mời, hát Mời trầu, hát Giao duyên, hát Đố, hát Họa, hát Thách cưới, hát Chia tay.

Trong một đám hát Trống Quân trước đây, người hát thường được chia làm hai nhóm: Nam và Nữ, đứng ở hai bên dây của Trống quân. Mỗi nhóm thường có từ 4 đến 5 người, là những người hát hay, ứng đối lời thơ nhanh. Đại diện mỗi nhóm ngồi hát ở hai bên. Hát Trống Quân được trình bày theo hình thức từng người hát một, do đó, đầu tiên bên Nam (hoặc Nữ) cử một người vào hát trước để chèo kéo bên kia vào cuộc, khi người hát gần xong khổ Thơ của mình thì bên Nữ (hoặc Nam) cử người của bên mình vào. Người hát vừa hát, vừa dùng một que tre nhỏ gõ vào sợi dây mây đệm cho giọng hát của mình, đồng thời, giữ nhịp mỗi khi hết một câu hát. Khi cặp Nam Nữ đối đáp so tài, tất có kẻ thắng, người thua. Và, bên nào thua sẽ thay người khác vào hát tiếp.

Về cấu trúc, mỗi lượt hát đối (hay đáp) được coi như một trổ. Mỗi trổ hát gồm ít nhất 2 cặp thơ lục bát. Những trổ hát dài nhất thường không quá 12 đến 14 cặp thơ.

Các hình thức diễn xướng có tổ chức với những chủ đề, nội dung đặc trưng, một đám hát Trống Quân bao giờ cũng được chia thành nhiều chặng. Quy trình diễn xướng Trống Quân thường biểu hiện cấu trúc kiểu mở đầu – tiếp diễn – kết thúc với tính lề luật khá cao. Có thể thấy ở trình tự: hát lập đám (hát chào), hát vận, hát giao hẹn, hát mời nước, hát mời trầu, hát huê tình, hát họa, hát đố, hát thách cưới, hát kể chuyện.., kết thúc bằng hát chia tay.

Tại Dạ Trạch, các nghệ nhân cho biết, mỗi đám hát phải có đủ bốn đôi Nam Nữ, trải qua các chặng, một đôi có thể hát suốt đêm, có khi một vài đêm. Ngày nay, những người yêu thích Trống Quân cổ đã biên soạn và dựng lại được bốn đôi đặc trưng của Trống Quân xưa.

Mở đầu, xen giữa hay kết thúc các trổ, các phần, người hát thường sử dụng những làn điệu dân ca khác của người Việt như Hát ví, Cò lả, Sa mạc… làm phần kết nối. Chúng có tác dụng như những đoạn chen, khiến cho tính nghệ thuật của đám hát thêm phong phú, làm cuộc chơi thêm hấp dẫn. Mặt khác, đặc điểm đó cũng đòi hỏi người trình diễn buộc phải có khả năng bẻ làn, nắn điệu, phải được rèn luyện theo thời gian.

Về tập tục, lề lối:

Để chuẩn bị cho đám hát Trống Quân, chỉ nghệ nhân cao tuổi mới được kiểm tra chất lượng âm thanh của Trống. Người mở đầu đám hát bao giờ cũng là người địa phương giới thiệu về quê hương mình và giới thiệu bản thân. Trong đám hát, một số nơi còn có hát xui (hát trợ giúp).

Hát Trống Quân ở Bắc Bộ nói chung và ở Hưng Yên nói riêng có nguồn gốc gắn liền với những sự kiện chống Ngoại xâm của dân tộc. Có thể nói, đó là nguồn gốc mang đậm dấu ấn lịch sử Đại Việt. Riêng hát Trống Quân Dạ Trạch còn gắn với truyền thuyết Chử Đồng Tử – Tiên Dung, gắn với Lễ hội Chử Đồng Tử. Hát Trống Quân thường có nội dung đề cập đến các sự kiện lịch sử, địa danh làng xã, tục cưới hỏi, sản vật quê hương… Vì vậy, có thể coi nội dung các câu hát là kho sử liệu quý về lịch sử làng xã, có tính giáo dục cao trong cách thức ứng xử, ca ngợi cái đẹp, phê phán cái xấu. Thời điểm tổ chức hát Trống Quân của cộng đồng cũng thể hiện đặc trưng của cư dân nông nghiệp vùng đồng bằng Bắc Bộ.

 Hát Trống Quân ở Hưng Yên góp phần làm giàu kho tàng Văn học dân gian và Âm nhạc truyền thống dân tộc, thể hiện sự cố kết cộng đồng của cư dân nơi đây. Sinh hoạt Văn hóa này đóng vai trò quan trọng trong đời sống của người dân, góp phần giải tỏa những lo toan, nhọc nhằn trong cuộc sống, sản xuất của cá nhân nói riêng và cộng đồng nói chung.

Với giá trị tiêu biểu, Hát Trống Quân ở Hưng Yên được Bộ trưởng Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch đưa vào Danh mục di sản Văn hóa phi vật thể quốc gia tại Quyết định số 4036/QĐ-BVHTTDL ngày 21/11/2016. “

——————————————————————————————————-

 Thay vì nghiên cưu tục hát Trống quận để đi về nguồn Tâm linh đoàn kết với nhau mà cứu nước thì CSVN lại dùng Tinh thần Trống quân làm phương tiện dụ dân đi vào Tà Nghĩa  mà phá tan Dân tộc!    

TÓM LẠI

Trống Quân là một nhạc cụ Dân gian mang tinh thần Công thể  và Phương cách tìm về nguồn Tâm linh .

Công thể là sinh hoạt chung của toàn dân, giúp mọi người năng gặp gỡ nhau, quen biết nhau ,thông cảm với nhau.

Tâm linh là nguồn Tình yêu nối kết mọi người trong Vũ trụ lại với nhau.

Công Thể và Tình yêu là hai yếu tố giúp toàn dân Đoàn kết với nhau, nên  là sinh hoạt tối cần cho Dân tộc.  

Nhờ Tinh thần này mà Dân tộc Việt Nam đã chống chõi với Kẻ thù không lồ phương Bắc, mà tồn tại đến ngày nay đã gần 5 ngàn năm ,

Thua keo này bày keo khác , Kẻ thù phương Bắc lại dụ được  “ kẻ Nội thù Lạc Hồn Dân tộctiếp tay tiêu diệt dần mòn Dân tộc VN, nhất là tìm cách tiêu diệt Văn Hoá cũng như đang tìm cách  bỏ tù thành phần yêu nước Tinh hoa nhất của Dân tộc cho đến lúc thân tàn ma dại!.  

Dân tộc chúng ta đã bỏ tục hát Trống Quân  mà chưa có Tập tục mới thay thế vào để duy trì tinh thần Công thể cũng như Đường về nguồn Tâm linh, lại thêm lại ngộ phải độc dược Duy lý Tây phương, ,dùng Lý Lẽ  nào rồi cũng gây phân hoá chia ly , nên không sao đoàn kết được Dân tộc , do đó mới bị lũ bạo tàn theo Văn Hoá bạo động Du mục đè đầu kẹp cổ như hiện nay.  Nói tóm lại, tới bao giờ có được Chủ đạo Hoà Đoàn kết Dân tộc để thực hiện được Chính nghĩa quốc gia thì đừng mong giải thoát được kiếp ngựa trâu!

Hy vọng thay!

Việt Nhân

_____________________________________________________________________________

THAM  KHẢO

I. HƯNG Ư THI: Nguồn Hứng khởi

( Kim Định )

Nước của Thi nhân

Khi tìm hiểu thái độ của Khổng Tử về thi ca chúng ta thấy mấy vấn đề sau đây cần được đề cập: Tại sao ông đặt vào Thi ca một sự quan trọng thoạt trông coi như quá đáng ở chỗ dùng Thi để mở đầu Triết lý. Tại sao lại dùng những lời phong dao tục ngữ bình dân ngược hẳn với Triết lý vốn được coi là khoa học cao diệu nhất? Và hơn thế nữa tại sao lại dùng những lời hát Hoa tình giữa Trai Gái dọ hỏi và trao gửi yêu thương… Đó là mấy điểm đại cương mà chúng ta sẽ tìm hiểu trong chương này.

Theo danh từ hễ đã gọi là Triết lý thì lẽ ra phải vun tưới Lý trí, phải tài bồi khoa Danh lý để Lý trí được trang bị đầy đủ mà “biện lý”. Đó là đường lối phổ thông của Triết học cổ điển, một đường lối đã được khai mạc cách long trọng bằng cử chỉ quyết liệt của Platon khi đốt các bài Thơ ông đã sáng tác lúc còn niên thiếu để được sóng lòng theo thầy là Socrate, cao Tổ của Triết thuyết Duy Trí. Cử chỉ đó còn phản chiếu lại trong tác phẩm République khi ông đuổi Homère ra khỏi nước Cộng hòa lý tưởng, sau khi đã đội lên đầu Thi nhân một tràng hoa. Tràng hoa này là của riêng Platon tặng cho bạn đồng chí cũ (vì chính Platon cũng là một thi sĩ kỳ tài) chứ không có tính cách chính thức nên sau đã bị chước tuột. Thi sĩ chỉ có bị đuổi mà không được vòng hoa nào. Qua hai mươi thế kỷ chương trình Triết học dành cho danh lý từng hai năm mà không cho Thơ ca được lấy một giờ. Nếu thi có sống là tự lực mưu sinh bên ngoài chương trình mà thôi (extra muros).

Khổng thì khác. Ông không cho Triết lý là hơn Tình người và nếu tiếng nói của Lý trí là lý luận là biện chứng thì tiếng nói của Tâm tình là thi ca là nhẩy múa. Vì thế ông đặc biệt chú trọng đến thơ. Ông nói:  

tiểu tử hà mạc học phù Thi?

, , , , .(LN VII.9)

Thi khả dị hưng, khả dĩ quan, khả dĩ quần, khả dĩ  nộ

Tại sao các trò không học Kinh Thi? Kinh Thi có thể dùng để hứng khởi Tình Chí, quán sát suy tư, để hợp quần, và để kêu oan… Vì thế ông dùng Kinh Thi mở đầu Triết lý. “Hưng ư Thi“.

Con người là giống đa tình hơn đa lý nên lời khuyên nhủ của ông đã được các xã hội Đông phương chấp nhận triệt để: mọi tầng lớp từ thứ dân đến Thiên tử hết thảy đều yêu thơ. Có thể nói các nước Viễn Đông là quê hương của thơ, nơi mà lúc xưa hết mọi người trí thức bên Viễn Đông đều làm thơ, thợ thơ hay thơ nhân tuỳ tài, nhưng hầu như ai cũng ngâm thơ, làm thơ và đối thơ đã trở thành chìa khóa mở nhiều cửa trong xã hội cũ. Lòng yêu thơ này vẫn được duy trì qua các thế hệ để đến ngày nay giữa lòng thế kỷ nguyên tử thơ vẫn sống mãnh liệt; hơn thế nữa đang lang tràn vào mảnh đất của Triết lý duy niệm.

Những Triết học mới đã khởi bàn về thơ. Nietzsche không những bàn về thơ nhưng còn làm thơ. Ông đã phát biểu nguyện vọng bắt chước Hy Lạp cổ đại là xây Văn hóa mới trên nền tảng Bi kịch, một nghệ thuật gồm cả Thơ lẫn Nhạc (việc chương trình giáo dục Pháp mới nhận thêm Nietzsche là một dấu của thời đại: người nay khởi đầu muốn nghe tiếng của Tâm tình hơn là tiếng Lý trí). Cuối chương này sẽ trở lại vấn đề bàn về lý do sâu xa của sự kiện này.

            Ở đây hãy tiếp tục bàn sang khía cạnh thứ hai là:

2.- Tính chất đại chúng của Triết Đông

Hiện tượng Thi ca khởi đầu được lưu ý bên Triết Tây đã xuất hiện như một bước tiến gần lại với Triết Đông. Nhưng đó mới là tiến lại gần mà chưa sát hẳn, nghĩa là Triết lý của Nietzsche chẳng hạn vẫn còn mang nhiều tính chất trưởng giả của nền văn học La Hy.

Nền Văn học này là con đẻ của giai cấp người tự do, một thiểu số sống trên lưng đại đa số nô lệ, vì thế họ lấy Bi kịch làm phương thế biểu lộ. Đã là bi kịch thì chỉ một thiểu số được đặc ân mới có đủ nhàn rỗi và điều kiện văn hóa để thưởng thức, chứ đại chúng cần lao, hơn nữa nô lệ thưởng thức sao được. Vả ai cho thưởng thức?

Khổng Tử trái lại chủ trương “hữu giáo vô loài“. Vậy điều kiện tiên quyết để chủ trương đó khỏi trở thành mây gió là phải lựa chọn phương tiện  nào vừa tầm đại chúng. Do đó ông đã chọn Thi Ca thứ dễ nhất, cụ thể nhất, đó là những ca dao, những câu Đồng diêu, Tục ngữ thường được ngâm nga khắp nơi trong nước, như gió thổi lướt trên mặt mọi người; vì thế gọi là “quốc phong” người bình dân đến đâu cũng hiểu được, ngâm nga, hứng khởi được. Phần quốc phong này được tuyển chọn nhiều nhất choán quá nửa Kinh Thi. Đang khi ba phần Thơ cao của trí thức chiếm có non nửa mà lại đặt sau, thì một mình “quốc phong” mở đầu với 160 bài (tiểu nhã 94, đại nhã 31, Tụng 48). Đã vậy còn nhấn mạnh đến hai chương đầu là Châu nam, Thiệu nam nói về Tình Người.

Đó là cái danh dự mà ông không có dành cho phần Nhã và Tụng nói về Trời. Trái lại phần Cao bao giờ cũng được xây trên nền thấp để có cao mà không thiếu thấp, hầu cho

Phu phụ chi ngu khả dĩ dự tri yên. Cập kỳ chí dã, tuy thánh nhân diệc hữu sở bất tri yên.

愚, 也, , T.D.12″.

Không học cũng có thể thông dự, nhưng lúc xét tới cùng cực thì dù là thánh nhân cũng có điều không hiểu hết. Đấy là nét thứ hai Đông khác Tây. Triết Tây xưa cũng như nay, ngay những nhà trí thức còn vò đầu chưa chắc hiểu nổi hiểu đúng chứ chưa dám kể tới người thường. Trên giường hấp hối, Hégel đã phì phào nói: “trong tất cả các học trò của tôi chỉ có một người hiểu được Triết học của tôi”. Nghe câu nói đó ai nấy đều nín thở cố im lặng để ghi rõ tên của người xuất chúng ấy, cái người duy nhất có thể hiểu được triết của Hégel, nhưng sau một lúc, Hégel lấy hơi để nói tiếp: “nhưng hắn đã hiểu sai!” Vậy là triết học của Hégel cao quá chẳng ai hiểu được. Thế mà trường hợp của Hégel không phải mẹo trừ nhưng là sự thông thường trong làng Triết. Đã mấy ai dám tự hào là hiểu được Husserl, Heidegger, Jaspers… nên phần đông phải kính nhi viễn chi, vì hầu hết các Triết gia hình như đua nhau nói kiểu khúc mắc nên Péguy đã mỉa mai: “Triết học là cần trước nhất cho không ai hiểu được mình nói cái gì“.

Bên Đông phương chủ trương trái ngược hẳn lại:

Dị giản nhi đắc thiên lý, (Hệ Từ), và

Thiết vấn nhi cận tư, nhân tại kỳ trung hỹ, , , LN.XIX.6″.

Có giản dị mới đắc thiên lý mới đạt đạo. Hỏi về những điều thiết yếu: suy tư về những điều gần gũi, Đức Nhân nằm ở chỗ đó”. Vì thế chính thánh hiền nói những chuyện gần gũi, thiết thực ít ra ở khởi điểm. Kinh Thi nói về việc hái rau, tát nước, sao mọc, gà gáy, chim bay, hoa đào nở v.v… và tất cả cảnh thiên nhiên đồng ruộng đó làm cái khung lồng trên những chuyện tâm tình, vui buồn, mừng tủi… ai ai cũng hiểu được, vì lời vắn tắt rất giản dị cụ thể, đại loại như những câu ca dao của ta:

Thân em như tấm lụa đào Phất phơ giữa chợ biết vào tay ai.”

“Chẳng tham ruộng cả ao sâu Tham vì anh tú lắm râu mà hiền!”

Vậy khi đọc Kinh Thi không nên tìm sự đẹp đẽ trang trọng trau chuốt. Cái hay của Kinh Thi không nằm ở đó, nhưng ở chỗ đẹp hồn nhiên, mộc mạc, thuần phác, nói thẳng với lòng, không có gì gọi là đẽo gọt như để khỏi mất hơi tình người, tình đất, tình trời thuần nhiên tuyền dã. Như thế mục đích của nó là làm thế nào cho hết mọi người hiểu được.

Đó là một đặc tính ăn sâu vào văn hóa Viễn Đông là tính chất bình dân của nó: tự dân chúng phát xuất, được đại chúng vun trồng nuôi dưỡng và khi đã kết tinh ở đại chúng mới vươn lên đến Thiên Địa bao la, những miền siêu hình bát ngát để có thể trở nên phong phú hơn, sâu sắc hơn.

Mỡ đầu là chim Thư Cưu sóng đôi, rồi đến Trai Gái truyện trò yêu thương, cuối cùng sẽ biến thành đôi Âm Dương, Thiên Địa… Nếu trong chính trị tính cách thân dân là nét đặc thù thì trong văn hóa tính chất đại chúng bình dân là đặc điểm. Sau những đặc tính:

2: không bi quan, ‘

3: không cổ võ quân lực,

4: không cá nhân,

5: lấy đời sống làm căn để.

Đó là 5 nét của Văn chương Viễn Đông).

3. Tiếng hát Hoa Tình

Điểm đáng chú ý thứ hai là Kinh Thi nói rất nhiều đến Tình tứ, Trai Gái yêu đương, thầm mong trộm nhớ, hầu như đó là đề tài chính phảng phất trong những cảnh thiên nhiên, những công việc sinh sống thường ngày: cày bừa, gặt hái, tát nước, kỳ cỏ, hái rau, lượm trái v.v…

Chúng ta hãy cùng nhau đưa vào Kinh Thi một cái nhìn trinh bạch. (Trinh bạch có nghĩa là chưa bị bẻ quặt do những chú sớ của Hán nho về sau).

Quan quan Thư cưu, tại hà chi châu, Yểu điệu thục nữ, quân tử hảo cầu,

Sâm si hạnh thái, tả hữu lưu chi.Yểu điệu thục nữ, ngụ mỵ cầu chi.

Cầu chi bất đắc, ngụ mỵ tư phục. Du tai! Du tai! Triển, chuyển, phản, trắc!

Sâm si hạnh thái, tả hữu thái chi. Yểu điệu thục nữ, cầm sắt hữu chi.

Sâm si hạnh thái, tả hữu mạo chi. Yểu điệu thục nữ, chung cổ lạc chi

Quan quan Thư cưu, tại hà chi châu, Yểu điệu thục nữ, quân tử hảo cầu

Sâm si hạnh thái, tả hữu lưu chi.Yểu điệu thục nữ, ngụ mỵ cầu chi.

Cầu chi bất đắc, ngụ mỵ tư phục.  Du tai! Du tai! Triển, chuyển, phản, trắc!

Sâm si hạnh thái, tả hữu thái chi   Yểu điệu thục nữ, cầm sắt hữu chi.

Sâm si hạnh thái, tả hữu mạo chi. Yểu điệu thục nữ, chung cổ lạc chi

芼 之 . 窈 窕 淑 女 . 鍾

“Quan quan cái con Thư cưu, Con Sống con Mái cùng nhau bãi ngoài.

Dịu dàng thục nữ như ai. Sánh cùng quân tử tốt đôi Vợ Chồng.

Muốn ăn rau hạnh theo chồng. Muốn có thục nữ mơ màng được đâu.

Nhớ cô dằng dặc cơn sầu. Cho ta dằng dặc hễ hầu ngủ yên.

Muốn ăn rau hạnh hái về. Muốn có thục nữ nay về cùng ta.

Tiếng chuông tiếng trống vui hoà. Tiếng cầm tiếng sắt mặn mà yêu đương.”

Chú ý: lời dịch của Tản Đà tuy đã tài tình nhưng vẫn chưa lột hết được hơi thở bản chính. Chẳng hạn câu ba “tả hữu lưu chi, tả cảnh tìm bên tả, tìm bên hữu” rồi câu năm dùng liền bốn động từ để tả cảnh trằn trọc ban đêm. Triển: trở mình một nửa Chuyển: trở mình một vòng. Phẫn: trở mình quá một vòng Trắc: trở mình mà đọng lại.

Bốn động từ đặt liền sau hai câu tán thán du tai! du tai! thật uổng công tìm!

Nghe nó mới dài làm sao cái cảnh trai nằm sấp, gái thở dài! Thời gian dài dằng dặc mà không gian man mác (tả hữu lưu chi). Thơ Tang Trung:

“Hái rau thỏ ty! Hái miền muội Hương Rằng nhớ ai kia?

Nhớ Tề Mạnh Khương. Nơi Tang Trung ta thương mình đón.

Nơi Thương Cung mình đón ta thương

Bên sông Kỳ mình tiễn những vấn vương ta nhớ mình Cắt lúa nếp hề.

Miền Bắc Muội nương Nhớ ai bây giờ?

Nhớ Dung Mạnh nương (Vân thuỳ chi tư? Mỹ Mạnh Dung hỹ!)

Hoặc bài thảo trùng: “Vị kiến quân tử: ưu tâm xung xung!” chưa gặp được chàng lòng em sùng sục nhớ mong. Câu đó đặt sau những chữ về đi! về đi, quy tai! quy tai! như nghe rõ bên tai tiếng lòng rạo rực hổn hển. Thực là xa kiểu “Nam Nữ thụ thụ bất thân” biết mấy.

Đọc Kinh Thi có cảm tưởng như đi dạo trong những rừng cảnh bên Tây Bois de Boulogne hay đúng hơn như bên Hyde Park ở Luân Đôn, phơi yêu đương hồn nhiên trên thảm cỏ xanh.

Kinh Thi cũng có thảm cỏ xanh (tuân kế thả lạc: Trịnh Phong): s’étend un beau gazon! Cũng gặp nhau trong bóng hoàng hôn, vào lúc tinh sao thay bóng điện néon tưng bừng giúp vui nhấp nhánh dưới rặng dương liễu đầu làng: “Hôn dĩ vi kỳ, minh tinh hoàng hoàng“. “Thơ đông môn chi dương”. Nhất là các cô gái trong Kinh Thi dạn lắm, các cô thường khiêu khích và “bắn” trước theo tinh thần Trống quân hay Chức nữ “đầy sáng kiến”: sai chim thước bắc cầu rồi sang đón Ngưu Lang: Chức Nữ thất tịch đương đồ hà, sử tước vi Kiều.

Trong Kinh Thi rất nhiều chim nhưng các cô không sai con nào đi bắc cầu cả: lâu la khó nhọc cho người ta! cứ để chúng hót lên những điệu du dương, còn các cô tự động vén váy sang sông khỏi bày vẽ cầu với kiều cho bận rộn chim chóc.

Tử huệ tư ngã. Khiên thường thiệp hựu. Tử bất ngã tư. Khởi vô tha sĩ? Cuồng trung chi cuồng dã thư! (thơ Khiên Thường)

“Nếu cậu ưng thuận thì tôi xắn váy sang sông” (Granet dịch: Je trousse ma jupe), nếu không thuận thì thiếu gì sinh viên khác. Chứ cứ đứng ngây ngây trơ trọi coi nó kỳ lắm, dại lắm, một lần nữa dại lắm cậu em ơi.

 Nếu ưng và sang sông rồi thì sao? Thì có thụ thụ bất thân không. Đâu có. Cô ta nắm ngay tay chàng và nói thẳng chúng ta cùng cho tới già! “chấp tử chi thủ: dữ tử giai lão” (thơ Kích cổ)

Đọc Kinh Thi chúng ta được chứng kiến mối Tình yêu thương giữa Nam Nữ biểu lột rất hồn nhiên chưa bị xuyên tạc, vẫn còn trung thực như trong cảnh địa đàng: trai gái hẹn hò gặp gỡ khi thì trong vườn dâu, khi thì ở góc thành, lúc trên bờ ao để: Cùng nhau ca vũ Cùng nhau nói kể, Cùng nhau tự tình (thơ Đông môn chi trì)   Khả dĩ ẩu ma,  Bỉ mỹ thục cơ, Khả dĩ ngộ ca… Khả dĩ ngộ ngữKhả dĩ ngộ ngôn. (thơ Đông môn chi trì)

Có thể ngâm nga, Rồi gặp người đẹp. Để mà ca vũ, Để mà kể lể  Để mà tự tình. Rồi cùng dặt tay nhau đưa lên xe chạy trên xa lộ Biên Hòa. “Tuân đại lộ hề, Chấp tử chi thủ hề…” (thơ Tuân đại lộ) Khi lên xe mới ngắm kỹ “Hữu nữ đồng xa, Nhan nhu thuấn hoa” (thơ Hữu nữ đồng xa) Có khi đồng xa nhưng không đồng sàng mới đâm ra nhớ, nhớ quá chịu không thấu thì trèo tường “Tương Trọng tư hề” Vô duẫn ngã . Vô triết thọ kỷ. Khởi cảm ái chi. Uý ngã chư huynh. Trong khả hoài chi: Đành là nhớ thương anh Trọng rồi, Nhưng còn anh em nhà tôi thì sao Trèo tường, giẫm vường làm gẫy cây cảnh, Thì yêu thương sao được. Thiếu gì nơi mà lại lần mò thế. Khờ quá là cái giống đa tình…

(Thơ Tương Trọng tử) Đó là đại cương phần quốc phong: bắt được quả tang là một tiểu thuyết Tình cỡ nặng! Như thế bảo các Nho gia không bù đầu bút tóc sao cho được. Tại sao đức Thánh lại cho vào Kinh Thi những điều mất nết như trên (cầm tay nhau, trèo tường) sao lại có thứ gió đó thổi lên như thế còn đâu là mỹ tục. Bởi vậy ta mới thấy ngay từ đời Hán đã đặt ra những luật phép để hướng dẫn “sự giải nghĩa Kinh Thi”. Đại để thì những chuyện quá quắt như lội sông, nắm tay, trèo tường v.v… vì ở trong Trịnh phong, nên đặt vào miệng Khổng một câu “ố Trịnh thanh” tôi ghét phong dao nước Trịnh. Tưởng vậy là xong. Nhưng nào có xong. Nếu ghét sao lại tuyển hợp cho vào Kinh Thi? Và cho vào nhiều nhất 21 bài, thứ nhì là Bội phong 19 bài. Ít nhất là Tào và Cối có 4 bài. Ngoại giả toàn giải nghĩa bóng.

Hai chương đầu Châu Nam Thiệu Nam thì cho là triều đình đã đặt ra để răn đe chê trách. Con trai giải nghĩa là Văn vương, con gái thì cho là chánh phi gì gì đó. Đại để đặt đủ điều tiểu xảo hầu che giấu bản chất của quốc phong.

Nhưng với con mắt phê bình chỉ cần đọc thoáng qua chúng ta thấy ngay sự giải dối của lối giải nghĩa độc chuyên kia, nó làm sai lạc cái ý chính, nó gò gẫm đến độ đọc lên phải buồn cười.

Sự thực thì Kinh Thi chính là những lời hát hoa tình theo nghĩa tốt, nghĩa là ái tình được trình bày thanh lịch như hoa (đào chi yêu yêu). Và sách giải nghĩa Kinh Thi chân truyền chính là những câu hát trống quân, những lời gợi tình dọ ý rất hồn nhiên giữa trai gái trong khung cảnh thiên nhiên có sông, có núi, như trong ca dao hay trống quân của ta. Cả hai dùng phát xuất do tạo phong nhiêu. Sau quốc phong bị đẽo gọt, bẻ quặt mới khác Trống quân. Tuy nhiên cũng còn nhận ra dấu vết và dù sao muốn hiểu Kinh Thi Quốc phong phải lấy ca dao ta làm một tiêu điểm so đo. Vậy ta hãy đọc ít câu đại loại như:

            Người Tình ta để trên cơi  Nắp vàng đậy lại để nơi mình thờ

Đêm qua và bốn lần mơ Chiêm bao thì thấy, dậy rờ thì không

Gió đưa cành mận, gió lay cành đào

Vì em anh phải ra vào tối tăm Tối tăm thì mặc tối tăm,

Chờ cho bác mẹ đi nằm sẽ hay

Thoạt vào anh nắm cổ tay

Em đừng hô hoán việc này nên to

Đường xa thì thật là xa  Mượn mình làm mối cho ta Một người

Một người mười tám đôi mươi   Một ngừơi vừa đẹp vừa tươi như mình…

Những câu trên đây nếu nghe qua tai hương nguyện thì ít nhất sẽ bị phê là thiếu đứng đắn, nếu không là buông lung. Nhưng thực ra nó cũng một hơi hưởng với Quốc phong Kinh Thi, nên nhiều người nghi ngờ có phải chính Khổng Tử san định chăng (như Khổng Đĩnh Đạt thí dụ).

Nhưng tôi cho rằng nếu xét riêng về phương diện Tình ái nam nữ, thì không nên hồ nghi việc Khổng san định Kinh Thi. Tuy có những truyện ngược với “Kinh Lễ” nhưng cũng có lý do khác mạnh hơn bên ngoài “ước lệ” mà đứng ở cương vị Triết lý chúng ta cần phải tìm hiểu.

4. Tình thực

Theo các nhà Tâm lý thực nghiệm thì trong một cử động của người Tình cảm chiếm tới mười phần hết chín. Trong các Tình con người thì Tình yêu thương ân ái giữa trai gái là mãnh liệt nhất nên hay xé rào, bất chấp mọi bờ cõi huý kỵ nên đã gây ra trong lịch sử biết bao là tấn bi kịch. Và xem ra nó là động cơ lớn của tài ba: hình như con người càng có tài xuất sắc càng yêu đương mãnh liệt.

Gorki cho Thiên tài là Á i Tình.

Nguyễn Công Trứ: “càng Tài tử càng nhiều Tình trái“.

 Berdiaeff nhận xét “mọi Nhân tài đểu là khách đa Tình cả: tout génie est érotique.

Cái đó dễ hiểu, vì Tình tứ dào dạt là biểu lộ một nguồn sinh lực mãnh liệt mà có mãnh liệt mới giàu sức sáng tạo. Do đó Tình yêu trai gái là chuyện rất thường lệ bình hành và ta có thể nói thẳng thắn rằng chung quanh tuổi đôi mươi mà trai không biết mê gái, gái không biết mê trai thì đó là những “miền kém mở mang” (les pays sous dévelopées).

Ở tuổi dậy thì mà không cảm thấy sức đi lên của nguồn sống thì không phải là những trạm kết tinh mãnh liệt khuếch đại sức sống để nó vươn lên, truyền bá ra dào dạt.

Do đó yêu đương ân ái giữa trai gái phải tràn dâng, phải chiếm đoạt cả tâm hồn lẫn thân xác của cái tuổi dậy thì. Tuy là hợp lệ nhưng rất mãnh liệt, rất dễ phá vỡ đê điều, do đó mới có vấn đề và mới gây nên những cách đối phó khác nhau như mần thinh, đàn áp, đề cập.

Mần thinh: tức là không nói tới những sự yêu thương ân ái Gái Trai, coi như không hề có chuyện đó, cố đem những kiểu sùng mộ những đối tượng u linh ở thế giới “cao siêu” bên ngoài trần tục để thay thế vào, với dụng ý át tiếng lòng. Chẳng hạn về Dục tính (sex) nếu có nói đến thì lại nói về Tính của Thần tiên. Kết quả xuýt xoát như chuyện cá gỗ: bố của nhà nghèo kia túng quá không có tiền mua cá. Người cha nảy ra ý làm con cá bằng gỗ treo lên, rồi dặn con mỗi miếng cơm nhìn lên con cá một lần cho khỏi nhạt miệng. Thằng anh nhìn lên ba cái mà miếng cơm vẫn nhạt không sao nuốt đi được. Em thấy thế mách bố. Bố bảo kệ! Cho nó ăn mặn rồi có ngày sẽ chết khát.

Đàn áp: lờ đi không xong thì đàn áp, tìm cách nói xấu đàn bà, “đàn bà là rắn độc“… hầu hết các câu bêu xấu phụ nữ (misogyne) (như ví cái hộp của Pandore… nguồn gốc mọi sự dữ) đều do thái độ trên hoặc gán cho việc ái ân một tầm quan trọng thái quá. Từ đấy đặt ra đủ thứ huý kỵ, để canh giữ… đẩy những kiêng khem thành đức này đức khác… Gán cho việc ân ái một mặc cảm tội lỗi nặng nề… Kết quả có hơn giải pháp mần thinh chăng? Khó mà xác định nhưng có lẽ sự thất bại còn nặng nề hơn. Chẳng hạn về mặt luân lý gây ra cả một bầu khí trá nguỵ giả dối che đậy, thiếu thành thật, và biến yêu đương rất hợp lệ thành mặc cảm tội lỗi, câu nói “bản chất Tình yêu là tội lỗi” thuộc loại đó.

Rõ ràng là obsession de péché. Nhiều nhà giáo dục quan niệm sự huấn luyện người cũng như đạo đức đều quy kết vào cả điểm này. Thành ra chỉ tạo nên được một lũ cù lần. Về mặt Tâm theo khoa phân tâm thì có thể đâm ra bệnh hoạn do sự dồn ép cái tình tứ quá mạnh, là căn nguyên nhiều bệnh Thần kinh khiến con người trở nên lệch lạc. Dầu chủ trương Freud không đúng hết nhưng ta cũng thấy trong việc cấm kỵ quá đáng đó gây ra mất quân bình… Về mặt xã hội hình như có việc “báo thù” bằng những cử chỉ quá trớn để đối kháng: những tượng lõa thể đặt đầy phố, những câu lạc bộ khỏa thân, những cuộc “vũ để tụt dần” strip tease… thường xuất hiện trong các xứ áp dụng hai lối Chính trị mần ngơ và đàn áp.

Đó là những hiện tượng gây thắc mắc. Đã thế về đàng Triết lý ngoài những huý kỵ và cấm đoán tiêu cực là sản phẩm dễ dãi tất nhiên của nhóm Thanh giáo tức những người không bao giờ vượt qua bình diện giới ước vốn được coi như tuyệt đối thì thiếu hẳn một Đạo lý tích cực bao quát nổi cả vấn đề Trai Gái thường tình soi thấu đến những phạm vi người đời quen gọi là Tục là Dâm. Đánh gẩy ra ngoài như những cái gì bị coi là của Quỷ ma Bẩn thỉu, và chỉ đưa ra được một nền Triết lý vô Nhân, có lẽ hợp cho Thần tiên nào ở đâu nhưng không có gốc rễ gì trong cõi Người ta chi cả. Vì thế ta phải đi tìm một giải pháp thứ ba có tính cách tích cực hơn. Và đó chính là giải pháp đề cập được áp dụng ở Kinh Thi. Chủ trương đó là  “ thành Ý chính Tâm  “ nên đố kỵ mọi trá nguỵ. Vì vậy bụng có sao nói ra thế, không thể bụng nghĩ tràn đầy chuyện nọ, miệng lại nói chuyện kia. Đàng khác chủ trương trong việc học vấn của Khổng không những Trí chi mà nhất là Lạc chi. Nói đến những chuyện cao xa lòng ít chú trọng thì chỉ có thể Trí chi cách lạnh lùng bằng Lý trí, chứ Tâm bất tại thì Lạc sao được.

Muốn Lạc chi phải nói ngay đến những chuyện đang đầy ăm ắp trong lòng, đang rạo rực trong đường gân, xôn xao trong thớ thịt… như thế vừa tránh được chuyện trá nguỵ mà cũng tránh luôn được cái tệ Dồn ép, bởi đã được giải tỏa đầy đủ không những bằng lời nói, bằng vần thơ, mà luôn bằng cung đàn, giọng hát, bằng cả điệu múa nhịp nhảy nữa.

Đó là một phương thế làm triển nở con Người, đó là một phép vệ sinh Tâm trạng, bớt được một số bệnh Thống kinh, gây được nhiều Tâm tình lành mạnh hơn. Cao hơn một bậc là xây được một nền Triết lý cai quát nổi cả vấn đề Trai Gái Tính dục với nền móng một Triết lý Nhân sinh tích cực hợp với nguồn sống Vũ trụ:  “ Thiên Địa chi đại đức viết sinh, và sinh sinh chi vị Dịch”

Vấn đề then chốt của Triết lý là Nhân sinh (sinh sống, truyền sinh, bảo sinh) khởi đầu từ đôi Trai Gái yêu đương ân ái dẫn tới chỗ Truyền sinh, rồi vươn tới Nguồn sống mênh mang bát ngát của Vũ trụ với danh từ Âm / Dương, Thiên / Địa, Càn / Khôn… Danh từ tuy khác nhưng cùng một nhịp nhàng tiết điệu, cho nên sách Trung Dung viết:

Quân tử chi Đạo tạo đoan hồ Phu Phụ; cập kỳ chí giả sát hồ Thiên Địa,

( chữ đoan Granet dịch là principe, germe…), đạo Quân tử khai mào từ việc Nam Nữ, đến lúc cùng tột thì xét tới Thiên Địa. Phải đọc kỹ câu đó, rồi ngắm nhìn Nho giáo toàn bích từ bài Quan quan thư cưu cho tới hai quẻ Kiền Khôn trong Kinh Dịch ta mới thấy cái khởi điểm của Nho giáo là vững chắc, và nhất là khi quan sát các Triết lý đã khởi đầu cách khác, như sự Hữu của Aristote, Linh tượng của Platon, Tư duy của Descartes… hiện nay đang bị phơi trần sự vô tình của chúng (philosophie deshumanisée, désincarnée). Lịch sử Triết học vì thế hầu hết chỉ là sự thu thập các tờ khai tử của những nền Triết đã khởi đầu từ những ý niệm cao siêu đặt bên ngoài cõi người ta, và đã tỏ ra vô ích cho con người sống thực.

Do đó ta nhận ra ý nghĩa câu “Thi khả dĩ quán, “, chữ quán có nghĩa là quan sát, suy tư, tư duy, suy nghĩ cách hoàn toàn triệt cả Ý lẫn Tình và Chí hợp câu “Tư vô tà” là cái mục đích chính của Kinh Thi. Như câu ” Thi tam bách, nhất ngôn dĩ tế chi, viết: tư vô tà,:  , , : ” (L.N II.2).

Mới đọc Kinh Thi ta thấy toàn là Tình, thế mà cuối cùng không dừng lại ở Tình cảm mà lại đạt tới Tư duy sâu sắc. Đọc sơ qua ta có thể cho là lạc đề: “Hưng Tình cảm để có thể Suy tư“. Nhưng khởi đầu khác đi là hỏng, chẳng hạn như Triết học Duy niệm đã khởi đầu bằng Ý niệm, thì nay người ta đã nhận ra Ý niệm chỉ là cái biết lưng chừng lơ lững giữa Trời, dưới Đất mất liên lạc với những thực thể cá biệt, mất sự cảm nghiệm qua đường gân thớ thịt, mà trên lại chưa vươn tới đợt suy tư trung thực. Như vậy chỉ còn là nắm xương khô sở dĩ có sức lôi cuốn được một số người chạy theo là do tính chất rõ rệt minh xác của nó. Nó trợ giúp cho việc sắp đặt các ý niệm, nên được giới học giả bảo trợ như của quý nhưng họ đã quên rằng nó có rõ ràng chính vì đã để rữa hết thịt gân nên hết luôn chất nuôi dưỡng.

Đó là con đường mà Platon, Aristote đã mở ra và hướng dẫn Triết học Tây Âu cho mãi tới nay. Ông Hughes nhận xét: khi đem Khổng Tử so với các tác giả La Mã Hy Lạp rất minh bạch khúc chiết thì tưởng đâu Triết nhân Đông phương là ngu đần là lơ mơ, nhưng về phương diện khác thì những Triết nhân La Hy bỗng trở nên chậm lụt kỳ lạ.

Whereas the Greek and Roman phiosophers have been subtles and discerning along certain lines, their opposite numbers in China may appear rather stupid and undiscerning on these lines. But along certains other lines the Chinese may have been quick to see certain facts, where the Greek and Roman suddently appear to have been curiously slow” 80 (Chinese Philo. In classics time p.20)

Sở dĩ Triết nhân Hy Lạp hiện ra thoái hóa chính vì đã muốn đi mau quá: đã vượt qua lời Hoa Tình để bàn ngay về Ý niệm. Sau 25 thế kỷ người nay đã nhận ra tính chất giả tạo của những cái Triết lý phi Nhân đó. Như thế ta mới nhận ra ý nghĩa câu nói: người mà học hai thiên Châu nam Thiệu nam thì như quay mặt vào tường

Nhơn nhi bất vi Châu Nam Thiệu Nam. Kỳ do chính tường nhi lập dã dư,

, ?” (L.N. XVII.10).

Không qua Tình yêu Trai Gái, nhảy tuột lên Ý niệm thì như dán mắt vào tường, hết trông thấy sự thực cụ thể. Dục tốc bất đạt là bài học phải nhắc luôn luôn. Vì tuy Khổng đã làm gương nhưng môn sinh về sau rất hay quên. Bởi vì việc khởi đầu từ những ý tưởng cao xa quả là một cám dỗ đầy sức lôi cuốn. Nhưng theo Jung thì “vấn đề Nam Nữ dầu đề cập bằng cách nào cũng vẫn là cửa đưa vào Siêu hình và cả Tôn giáo nữa “quelle que soit la voie d’accès vers le problème de la distinction entre le masculin et le féminin, ce problème sera toujours la porte d’entrée vers la métaphysique et même vers la religion” (Butendijk 432).

Câu này giúp ta hiểu Khổng đã khởi đầu Triết lý Nhân sinh bằng những lời hát Hoa Tình là rất đúng Tâm lý vậy.

5. Kết

Muốn hiểu được lý do sâu xa đã quyết định thái độ Khổng Tử dùng những câu Hoa Tình trong Kinh Thi phải tìm lại niềm trinh bạch sơ nguyên lúc con người chưa bị chi phối bởi ước lệ xã hội.

Ở trong Tâm trạng đó có dân sống khỏa thân và coi việc truyền sinh là tác động căn bản nhất, linh thiêng nhất. Lúc đó con người chưa bị nguỵ tạo do những huý kỵ của Thanh giáo các đời sau làm hư đi, nên còn giữ được tâm trạng vô tội, nên thái độ rất là hồn nhiên chân thành y cứ trên Nhân sinh nhiều hơn L ệ tục.

Chính vì Khổng Tử còn gần với tâm trạng vô tội sơ nguyên đó, còn biết một thứ siêu hình luân lý vượt qua những thứ luân lý hình thức nhất định nọ nên mới có điều rất kỳ lạ này là chính môn sinh tìm cách gò bó thầy, thay vì thầy gò bó môn sinh như thường lệ nơi khác. Tử Lộ bất duyệt truyện thầy thăm Nam Tử. Truyện Tử Hạ, Tuân Tử không cho học Kinh Thi, nhưng bắt học Kinh Lễ. Truyện các môn đồ về sau bắt vỡ lòng bằng những sách cao siêu và tìm cách giải nghĩa Kinh Thi theo lối cao quý “tao nhã”.

Thật là ngược đời! Nhưng cũng chính ở chỗ ngược đời đó mà Khổng Tử đã được nghe theo trải qua bao nhiêu thế hệ và đã thành công trong việc thiết lập một nền Triết lý Nhân sinh mà cho tới nay vẫn con mang tính chất thời đại, ngay trong vấn đề tương quan Nam Nữ.

Chí như trong bọn Hương nguyện Đông cũng như Tây trải qua từng hai ngàn năm mà chưa sao viết nổi một cuốn sách Triết lý nào có chất trung thực.

 Chúng ta biết rằng giải pháp thời Khổng Tử không thể áp dụng y nguyên vào thời đại này đã quá khác nhưng nếu đem so Triết thuyết của ông đầy chất chân thành và tích cực với những triết thuyết gọi là Cao siêu nhưng đầy Trá nguỵ và Giả tạo, ta vẫn thấy nó còn cung ứng được nhiều yếu tố khả thủ hơn rất nhiều.

.           Xin tóm lược lại những yếu tố đó theo quan điểm Triết lý Nhân sinh. Điều nổi hơn hết là Nhơn tức là nói đến Tình vì Tình đi sát Nhơn: ta quen nói Nhơn Tình, còn Lý đi với Sự ta quen gọi là Lý Sự. Triết lý Nhân sinh chống đối việc đặt Sự trên Nhơn, đặt Lý trên Tình, nên chủ trương học Kinh Thi thay cho Lý luận là cốt mong cho Tình Người làm Chủ Lý sự: Ngoài là Lý nhưng Trong là Tình (tử vị phụ ẩn, phụ  vị tử ẩn: con vì Tình che giấu cho cha. Cha vì Tình che giấu cho con).

Tấn bi kịch của Nhân loại hiện đại là để cho Lý lấn át Tình, để cho Nhân tánh bị Kỹ thuật vô linh hiếp đáp. Điều đó Triết lý Duy Niệm có sạch trách nhiệm được chăng? Dầu sao thì người ta cũng phải chân nhận rằng sự đóng góp của nền  Triết lý Duy Niệm vào đời sống thực tại thật là thiểu não: phải chăng vì để cho Danh lý choán hết chỗ, lẽ ra phải dành cho Thi ca?

Điều thứ hai cần chú ý: đã nói đến Tình thì mạnh mẽ nhất là Tình dục. Tình dục kết tinh lại nơi người Phụ nữ. Vì thế Triết Đông trao cho nàng sứ mạng thâu tóm, tàng trữ, tụ hội. Tiếng kỹ thuật gọi là Âm vì Âm tàng còn Dương hiển.

Một Triết lý chỉ có Luận lý mà thiếu Thi ca thì là Triết lý chỉ có Hiển mà thiếu Tàng. Không thể gây sinh thú cho con Người, không thể trở thành nền Triết lý Nhân sinh, bởi chưng con Người được cấu tạo do  “ Âm Dương nhị khí “ nên Dương thiếu Âm như cá thiếu nước ( Nữ thất Nam như ngư lạc thuỷ) “thiếu Nàng đi là Vũ trụ trở nên hoang vắng” (un seul être vous manque et tout est dépeuplé. Lamartine).

 Đó là những lý do giải nghĩa sự hiện diện thường xuyên của Nàng trong các áng thi ca lớn của thế giới: lúc thì mang tên là Thuý Kiều, khi là Thôi Oanh Oanh, khi là Juliette lúc khác là Beatrice hay Duleina… và nhiều khi hình bóng nàng được dùng để tượng trưng cho Minh triết cũng vì đặc tính Tụ hội, đi vào Nội tâm đó.

Lévy Strauss: L’Occident a tendance à perdre la chance de rester femme i.e l’aspect féminin, côté spirituel de la vie intérieure… Âu châu có khuynh hướng để mất khía cạnh Đàn bà trong Văn hóa, tức là đánh mất yếu tố Tâm linh vậy.

Điều thứ ba là vấn đề xé luỹ trèo tường. Trèo tường có thể là một hành vi phạm pháp, liều lĩnh, sái luật đáng lên án. Nhưng trèo tường cũng có thể ám chỉ một sự vượt qua, siêu lên đến cõi Trung Dung cũng gọi là phạm vi Tâm, Tính đặt bên trên Ước lệ và lúc đó tường giậu tiêu biểu cho những Ước lệ xã hội nhất định nọ cần phải vượt qua để đi đến cõi Siêu luận lý của  “ tính Đồng Nhiên con Người muôn thưở “ đặt bên ngoài những huý kỵ của nền Đạo lý này hay Tôn giáo kia.

Nietzsche nói: Tất cả những gì làm do Tình yêu đều làm bên ngoài Thị Phi. Tout ce qui se fait par amour se fait par de là du bien et du mal.

Roméo Juliette biết vượt ra ngoài Thù hận của hai gia tộc, để gặp nhau trong Tình ái ân vô biên, và  Trời cho chim Thước bắc cầu để Chức Nữ Ngưu Lang được đoàn tụ: một thứ trèo tường được Trời ban phép Lành.

Vậy thì xé rào trèo tường cũng có hai nghĩa: vừa có nghĩa là lỗi luật phạm pháp do xã hội đặt để mà cũng có nghĩa siêu lên vươn tới  “ Tính bản nhiên Con Người: Human nature “.

Sở dĩ những bậc đại Hiền triết có thái độ lâng lâng vô tội và cởi mở là vì các ngài biết tới Siêu Luân Lý này. Và khi nói đến Thi ca là các ngài nghĩ tới Siêu luân lý đó, thứ “hình nhi Thượng” đó, nên mỗi lần bàn về Kinh Thi Khổng Tử hay bàn ra ngoài nghĩa đen là vì thế. Vài thí dụ: “Cáo chư vãng nhi tri lai giả, , LN.I.15″, bảo cho hay về Dĩ vãng liền nhân đó biết đến truyện Tương lai. “Thi tam bách, nhất ngôn dĩ tế chi, viết: Tư vô tà,     , , : ,LN. II.2″, ba trăm bài kinh thi tóm vào một câu: suy tư không tà vạy!

Hội sự hậu tố (hình vẽ của họa sĩ đến sau nền trắng), , LN.III.8″, nền trắng (tố) nói ở đây có ý biểu thị sự Thành tâm trong trắng phải có đầu tiên như nền tảng. Thiếu nó có vẽ vời bao nhiêu cũng là giả tạo.

 Chú thích: bài về Kinh Thi ở đây sẽ được bàn rộng trong quyển “Việt Lý Tố Nguyên” ở bài “phần đóng góp của Việt tộc trong việc hình thành Kinh điển”. Cũng trong đó nói đến 2 nền luân lý: một của Thị dân nhiều nguỵ tạo; một của Thôn dân giàu tính chất phác…

 Muốn hiểu Thi ca theo nghĩa thăng hoa. Muốn vươn tới cõi Siêu Luân Lỳ này chúng ta cần phải tiếp tục bước thứ hai là “Lập ư Lễ“. Có Lễ mới giữ cho khỏi buông thả nhưng được hướng dẫn để Tình thăng hoa giúp vào sự nảy nở toàn diện của con Người.

. II.- LẬP Ư LỄ

( Nguồn Tiết  chế  Lục dục Thất Tình )

   Nếu Kinh Thi là tay Mặt thì Kinh Lễ là tay Trái được Khổng Tử dùng trong việc tô tạo điêu luyện con Người lý tưởng.

 Do đó Kinh Lễ là dấu đặc sắc thứ hai của nền Văn minh Đông Á. Không phải nơi khác không có Lễ, cũng không có Thi, nhưng ở đây có sự khác biệt ở chỗ chúng được nâng lên hàng Kinh và được trao cho một vai trò tối quan trọng là đổ khuôn nền Minh triết hãy còn quá trừu tượng qua Thi và Nhạc.

Đối với chúng ta ngày nay nói đến Lễ tức là nói đến cái gì gò bó, câu thúc, giả tạo, cổ hủ… Tất cả những hình dung từ trên đều có phần đúng là bởi chúng ta được chứng kiến một thứ Lễ ở thời Mãn Châu đã mất cái Tinh thần chỉ còn lại toàn là bì phu hình thức đã đánh mất cái chất chân thành; bởi cái Lễ đó đã được quy định mãi từ đời Hán, một đời sùng thượng Lễ nghi quá mức, rồi trải qua các đời sau càng ngày càng thêm chi ly phiền phức chỉ còn có Nghi mà hết Lễ, nên dễ bị khinh thường.

Đó là một Thái cực. Đàng khác chúng ta đang ở thời đại cá nhân lãng mạn. Chủ nghĩa đó càng lớn mạnh thì lời buộc tội càng gắt gao. Lễ bị coi là kẻ tử thù giết chết Tự do con Người, làm tê liệt mọi sáng kiến cá nhân, khiến cho xã hội Viễn Đông vì lễ mà bị nằm ù lỳ trong ứ đọng, chậm tiến. Vì đó thế hệ trước cố giũ bỏ để cho thế hệ này được   Bởi đó cũng lại là một thái quá nữa vì một đàng cá nhân lãng mạn chưa phải là lý tưởng hoàn bị và hiện chúng ta đang phải đi tìm một chủ thuyết bớt tính cách cá nhân và giàu chất công thể hơn (communautaire). Đàng khác chưa đủ lý do đổ trút cho lễ sự chậm tiến của Á Châu, vì Nho giáo cũng có những thời phục hưng, như thời Đổng Trọng Thư, thời Vương Sung, rồi Trình Tử, Vương Dương Minh v.v… và tại sao Âu Châu không có lễ cũng vẫn nằm ù lỳ suốt mấy mươi thế kỷ không nhúc nhích được bước nào? Do vậy cần gạt những cái quá đáng của hai lập trường trên để bình tâm xét lại những lý do biện hộ cho Lễ.

  1. Lý do sư phạm Hãy nói đến cái lý ngoại tại thuộc phạm vi sư phạm trước nhất. Theo quan điểm này thì Lễ là lợi khí tốt nhất để cụ thể hóa lời giáo huấn. Lời nói dẫu tài khéo đến mấy vẫn còn trừu tượng, không thể nào hiệu lực bằng gương thiết thực kèm theo. Dạy phép lịch sự xã giao hay bất cứ cái gì mà diễn ngay ra bằng những cử chỉ đánh vào thị giác thì công hiệu hơn nhiều.
    Lễ vân lễ vân, quý tuyệt ác ư vị manh, như khởi kính ư vi diệu. Sử dân nhật tỷ thiện viễn tội nhi bất tự tri dã,

, Lễ vân lễ vân

, quý tuyệt ác ư vị manh

. như khởi kính ư vi diệu.  

使 ” (Lễ sát). Sử dân nhật tỷ thiện viễn tội nhi bất tự tri dã,

Ôi Lễ! Cái quý của nó là ở chỗ tuyệt điều Ác ngay khi chưa Nảy Mầm, là vun tưới lòng Kính cẩn ở những chỗ rất Tinh tế, khiến dân ngày ngày đi theo chiều Tốt lành, tránh xa Tội lỗi mà không Hay biết vậy”.

Ngày nay những trường hợp sư phạm của một Montessori, một Dewey đang cố cụ thể hóa nền Giáo dục, cũng là gắng sức đáp ứng nhu cầu đó, kể cả lối Giáo dục bằng phim ảnh cũng chỉ là mới mẻ trong kỹ thuật khoa học, nhưng về chủ đích vẫn là một.

Đạo Nho là một Triết lý hành vi, nên tất nhiên phải coi trọng Lễ… bởi trong một trăm người vị tất đã có được một hai làm việc vì suy tư, vì lý lẽ, nhưng hầu hết làm vì Cảm tình vì theo những cái gì cụ thể đập vào mắt. Do đó lòng Yêu Lễ của Khổng chứng tỏ ông là một nhà Giáo dục sành Tâm lý con người. 

Tâm lý     Sau lẽ giáo khoa đến lẽ Tâm lý. Lấy Tâm lý mà xét lòng Người thì thấy Tình dục ví như Cỏ dại mọc lên lan tỏa cần phải dùng Lễ làm như Cày bừa.

Nhơn Tình giả, thánh Vương chi điền dã tu Lễ dĩ canh chi,

. . , Lễ vận IV.7 (12)”,

Tức là tiết chế Tình dục vậy. Tại sao lại phải Tiết chế? Tuân Tử trả lời: “người ta sinh ra là có Dục. Dục mà không được thỏa mãn thì không thể không cầu, cầu mà không giới hạn độ lượng thì không thể không tranh chấp. Tranh chấp thì loạn, loạn thì khốn cùng.

Tiên Vương ghét loạn nên chế ra Lễ Nghĩa để phân định, để nuôi dưỡng cái Dục của dân, đáp ứng nhu cầu của người ta” (Lễ luận). Đó là điều thiết yếu cho thời đại này, đến nỗi những người như Nietzsche mà cũng cảm thấy sự cần phải Tiết chế, ông viết: “Ce qui manque somme toute à notre humanité présente, c’est le dressage et la sévère discipline” (V.P. 55). “Tóm lại điều thiết yếu nhất cho Nhân loại hiện đại là sự áp tập và một kỷ luật nghiêm khắc“. Trong quyển Par delà le bien et la mal, ông nói:

 “Điều căn bản trên Trời cũng như dưới Đất là vâng theo lâu ngày trong một chiều hướng. Vì có lâu dài như thế nó mới nảy ra, và vẫn còn nảy ra được những Giá trị làm cho đời Sống đáng sống trên mặt Đất này, thí dụ Nhân Đức, Nghệ thuật, Ca nhạc, Vũ điệu, Lý sự, Tinh thần, nghĩa là cái gì làm cho biến thái, làm cho trở nên thanh tao, mê linh, siêu linh.La chose principale au ciel sur la terre c’est d’obéir longtemps et dans une même direction. A la longue, il résultait et il en résulte encore quelque chose pourquoi il vaut la peine de vivre sur la terre par eux la vertu, l’art, la musique, la danse, la raison, l’esprit, quelque chose qui transfigure. Quelque chose de raffiné, de fou et de divin.” (143).

Lời của Nietzsche đáng cho ta suy nghĩ, vì ông là một người có tiếng phá đổ mà vẫn tuyên bố như trên. Tuy nhiên ông mới nhận ra sự quan trọng, nhưng chưa đưa ra phương pháp nào khả dĩ so với Lễ mà Nho giáo đã dùng để trác luyện đoàn người Viễn Đông một cách có hiệu quả. Kinh Lễ nói: “Lễ khí, thị cố đại bị, đại bị thịnh đức,”: les règles servent à former les hommes. Elles le conduissent à la plus grande perfection. La plus grande perfection c’est la vertu à son plus haut degré. Một điểm khác đáng lưu ý đó là đức Hằng trong Nho giáo được nhắc đến luôn luôn dưới đủ mọi hình thức.

Vô Hằng bất khả dĩ tác vu y, , VIII.22″,

việc nhỏ như Vu và Y thiếu đức Hằng còn không làm được, phương chi Đạo quân tử. Câu nói sau đây của Nietzsche giúp ta hiểu lý do tại sao Nho giáo lại nhấn mạnh đến đức Hằng. “Ce n’est pas la force de sentiments qui fait les hommes supérieurs, mais leur durée. (Par dela le Bien et le Mal, p.72) “Không phải tình cảm mãnh liệt làm nên đại nhân, nhưng là sự lâu bền của những tình cảm đó”. Can đảm một lúc không khó, nhưng can đảm lâu dài, đi theo một chiều hướng mãi mãi, đó mới là chuyện hiếm. Có lẽ vì Khổng đã sớm nhìn thấy sự cần thiết như Nietzsche, nên ông dùng Lễ để đào luyện Người và nhờ theo con đường đó lâu ngày mà các dân tộc bên Viễn Đông có được một số đức tính đáng trọng như Ôn hòa, Điềm tĩnh, Mực thước là những đức tính làm cao quý Nhân phẩm và Nhân cách của Tiên Tổ chúng ta.

  • Khi Người sống với Người

Dầu sao thì bài học Lễ đã được môn đệ chấp nhận mau hơn bài học Thi và do đó họ còn đi quá trớn đến chỗ “thượng Lễ” và đặt Lễ lên trên hàng đầu như người ta quen nghe

Tiên học Lễ hậu học Văn, “.

Đó là do môn đệ về sau đặt ngược thứ tự Lễ trên Tình, chứ như trong Luận ngữ ta thấy Lễ đến sau: Tử dĩ tứ giáo, văn, hạnh (tức lễ), trung tín, , , , ” (VII.14)

hay câu ” Bác ngã dĩ văn, ước ngã dĩ lễ, , ” (VII. 17, IX.10). Và trước phải trung tín sau mới đến Lễ:

Lễ hậu hồ, (III.8).

Lễ đến sau Nghĩa là phải “  hưng ư Thi “ cho Tình lớn mạnh đã rồi mới Tiết chế sau. Chưa Hưng mà Tiết ngay thì lấy chi mà tiết? Đàng khác luôn luôn nhắc đến chữ

Ninh kiệm, Ninh thích, , III.4″,

về Lễ nên có Điều độ tiết chế: quý cái chân tình hơn khoa trương hình thức. Chẳng qua tại môn đệ trí lự không đủ quảng khoát, nên quá nhấn mạnh Lễ, thành ra lối giáo dục về sau mới mất dần tính chất tích cực linh động, sa vào những quá đáng gây nên việc phản đối của một Mặc Địch chủ trương ngược lại “phi Lễ” hay một Lão Trang khinh bỉ Lễ và chỉ muốn cho con người được hoàn toàn giải phóng không phải cái gì ước thúc cả. Thực ra lối sống tiêu dao du đó đầy sức cám dỗ, ai mà chẳng thèm khát? Nhưng phi trên núi rừng thênh thang không thể hiện thực được trong đời sống xã hội chen chúc.

 Khổng đã quan niệm con người gắn liền với xã hội thì nhất định phải có ước thúc gò bó, không tránh sao được: Không lối này thì lối khác, điều kiện tiên quyết duy trì Tự do là phải hạn chế Tự do. Càng những người chủ trương buông thả lại càng gần những ông chúa trùm chuyên chế độc tài như lịch sử đã hiến cho ta không thiếu gương tích.

Giữa hai thái cực hoàn toàn Tự do giải phóng của Lão Trang và hình luật chuyên chế của Hàn Phi Tử thì ở giữa có chế độ Lễ trị của Nho.

Dùng đến hình luật chỉ là việc bất đắc dĩ bởi nó từ ngoài tròng vào con người, nó hạn chế cái phần tự động tự chủ của con người, nên bớt được đến đâu hay đến đó, tuỳ hoàn cảnh và thời thế, còn chính lý tưởng phải là dùng Lễ trị vì nó hợp với bản tính Tự do con người, nó duy trì được cái Nghệ thuật sống, và lối sống của người với người, tức là tính chất hỗ tương hợp tác: phần tự động ở Lễ trị vượt xa trên phần thụ động tùng phục ở Pháp hình. Vì thế Lễ cũng gọi là Cự: tức là bữa ăn góp, trong đó ai cũng đóng góp và cũng dự hưởng. Chu lễ kỳ do cự dư,  , Lễ VIII.5. Chỉ có lối Lễ trị là hợp cho quan điểm

Nhân bản Tâm linh theo đó không được đặt cái gì lên trên con Người như Pháp với Hình mà một chủ nghĩa Tự do quá trớn sẽ là căn nguyên đưa lại.

Cho nên chống phi L cũng chính là chống Pháp hình vậy.   

Đàng khác vì Lễ giàu chất Tự động nên gây ảnh hưởng sâu xa hơn Luật. Luật chỉ mới khiến tránh phạm lỗi bên Ngoài, Lễ mới đi thấu vào Nội Tâm, gây nên tinh thần Tự trọng rất lợi cho sự nảy nở Nhân cách ( hữu sỉ thả cách, , có óc Tự trọng mới giàu nhân cách).

Pháp hình nhằm việc Đã qua, Lễ mới chú trọng đến việc Chưa tới.

, Lễ giả cảm ư Đương nhiên chi Tiền

, Pháp giả cảm ư Dĩ nhiên chi Hậu,

Lễ Sát” Với luật người ta mới gây nên cảnh Đồng nhất, một lối kết hợp chung cho các con vật, cả loài vô tri: một Đoàn cừu, một Đống đá đều là Đồng nhất, nghĩa là y như nhau từ Ngoài bắt phải tuân theo như thế chứ Nội tâm không đóng góp gì.

Chỉ với Lễ mới gây nên được Thống nhất nghĩa là chấp nhận tự bên Trong nên vẫn còn duy trì được cá tính và tư cách là những cái bên Ngoài phải biến mất trong Đồng nhất nhưng được duy trì trong Thống nhất.

Vì thế đứng ở phương diện Triết lý thì nên chú trọng Lễ trị, vì đó là phần phổ biến ví với Hiến pháp, còn phần Hình luật nên để cho cơ quan Lập pháp có nhiệm vụ tìm ra tỷ lệ pháp hình tương hợp với nhu cầu từng giai đoạn: thời bình thì Lễ thắng Pháp, thời Loạn thì tạm để Pháp trổi hơn.

III. THÀNH Ư NHẠC

(   Nhạc là chỗ Hòa của Thiên Dịa  )

Đây có thể gọi là nét đặc sắc thứ ba của Khổng môn. Lòng yêu Nhạc của ông thật là chan hòa! Qua cửa trường ông chưa ai nghe thấy Lý luận, hay biện chứng nhưng rất nhiều người được nghe thấy Đàn Hát.

Hữu Tâm tai kích khánh hồ,

“,

 Lời một ẩn sĩ nói lên khi đi ngang qua Khổng môn, nghe tiếng Khánh thì khen người đánh là có Tâm huyết ưu thời mẫn thế. Thầy trò ngồi bàn chuyện cũng có người đánh đàn và Điểm lúc đứng lên trình bày ý kiến mới buông đàn ra để nó ngân dài

Cổ sắt hy, khanh nhĩ, , , XI.25).

Với Khổng thì Nhạc quả là bà Chúa của Nghệ thuật:

Sinh dân chi Đạo, Nhạc vi đại hỹ,

, , Nhạc ký 24b.

Phương pháp làm nảy sinh Đạo đức trong dân chúng thì Nhạc là công hiệu lớn lao nhất. Do đó ông quy cho Nhạc vai trò cao quý nhất là làm trọn cái mà Thi mới chỉ hưng khởi lên và đặt đứng ở Lễ, còn việc đưa tới đích cùng là việc của Nhạc: “thành ư Nhạc“, bởi ông cho Nhạc có sức biến đổi được Phong tục của một dân một nước:  

也 者 . Nhạc dã giả khả dĩ thiện dân tâm

, kỳ cảm Nhơn thâm

, kỳ di Phong dịch Tục

除其 , 7.11″. cố tiên vương trừ kỳ giáo yên

Công hiệu của Nhạc là có thể cải thiện lòng dân, bởi nó cảm hóa rất sâu xa có thể biến đổi được Phong tục, nên Tiên vương lập ra trường để phổ biến Âm nhạc, Ca vũ để nói lên nghĩa vụ mọi người và bắt phải suy nghĩ về Nhạc để tìm ra thâm ý.

Do đó mà có lẽ Viễn Đông là nền Văn hóa duy nhất có Bộ trưởng Âm nhạc như ông Quỳ giữ Nhạc bộ của vua Thuấn. Cái sức cảm hóa của Nhạc thực ra đâu đâu cũng nhận thấy. Tây phương có câu: la musique adoucit les moeurs, là cùng một ý đó và được biểu thị bằng câu chuyện ẩn dụ của Orphée, một nhạc sĩ thiên phú có tiếng địch làm hiền được thú dữ với chim muông. Cái sức cảm hóa của nhạc mạnh mẽ đến nỗi người Duy Lý như Socrate cũng chiêm bao thấy thần bản mạnh (daimon) của ông khuyên nên học Nhạc, và cho rằng khi điệu nhạc đổi thì hiến chương một nước cũng đổi theo. “Daimon m’a dit lorsque changent les modes musicaux, les lois fondamentales de l’Etat changent avec eux.” (Rép. P.501)

Nhân đó Platon dẫu bỏ Thi mà vẫn giữ lại Nhạc, nên sau ta thấy các trường cổ điển không có Thi, Thư, Lễ nhưng có Nhạc. Và nhất là bước vào đời mới có những Triết gia như Schopenhauer, Nietzsche đã viết về Nhạc những trang thấm thía, nên nay nhạc tuy chưa là môn học bó buộc, nhưng đã chiếm được một chỗ trong chương trinh giáo dục. Và như thế nhạc không còn đặc điểm của Nho giáo. Tuy nhiên Nho giáo vẫn còn cái gì riêng biệt đáng bàn đến, đó là chỗ nó quy cho Nhạc vai trò huyền nhiệm: thông dự với Trời Đất và hoàn thành con đường tiến hóa đã khởi đầu ở Thi và củng cố ở Lễ, nhưng thành đạt ở Nhạc.

Nhạc là kết tinh sâu thẳm nhất của Thi và Lễ.

Vì sứ mạng cao siêu nên phải ý thức được Nội dung mà Nho muốn quy cho Nhạc. Nhạc là cái gì đặt bên trên Âm thanh. Thanh là một tiếng nào bất cứ. Khi tiếng kêu đó có Văn vẻ Tiết điệu thì gọi là Âm. Khi Âm đưa tới Đức gọi là Nhạc.

Thanh văn chi vị Âm, Đức Âm chi vị Nhạc,

“.

Con vật mới biết Thanh mà chưa biết Âm ( tạm nói theo thông lệ). Người thường chỉ biết Âm mà chưa biết Nhạc. Chỉ có bậc Quân tử mới biết được Nhạc tức là cái Đức của Âm Thanh. Cái đức đó là Hòa: “Nhạc dữ thiên địa đồng hòa“. Cái chính cốt của Nhạc là ở chỗ Hòa với Thiên Địa. Muốn cho “chí Đức”  “ chí Hòa  “ thì phải thấu triệt cả cái Hòa hàng Ngang cũng như Hòa hàng Dọc. Hòa hàng ngang với Nhân quần. Sống trong xã hội không thể hai người cùng đứng một nơi nên bó buộc phải chỉ định cho mỗi người một vị trí riêng biệt, để khỏi dẫm chân lên nhau. Đó là chuyện của Lễ tuân theo luật không gian “địa phương” như câu “Lễ chi địa chế”, lễ là thể chế thuộc Địa, cực chẳng được phải tuân theo, nhưng đồng thời phải tìm cách bù lại bằng luật Thời gian (Thiên viên) và đó là sứ mạng của Nhạc nhằm nối lại, hòa nhịp lại những cái gì mà Lễ đã chia ra:

Nhạc giả vi đồng, Lễ giả vi dị,

樂者 , ,

Nhạc làm nền đồng nhất, Lễ phân ra sai biệt. Lý tưởng là phải giữ được quân bình giữa

Đồng và Dị. Nghiêng sang một bên là hỏng. “Lễ thắng tắc ly, nhạc thắng tắc lưu, , “. Lễ thắng thì đâm ra ly loạn, có phân biệt mà thiếu chỗ thâm tình hòa điệu. Nhạc thắng thì đâm ra buông lung, thiếu thứ lớp trật tự. Bởi vậy mới nói “Nhạc cực tắc ưu” (Nhạc ký 27): Nhạc mà quá quắt sẽ sinh ra ưu sầu. Hễ giữ cân đối được thì có kinh có hòa

” Đồng tắc tương thâm, Dị tắc tương kính,

, “.

Với kinh với Hòa thì muôn việc ở đời đều xuôi cả. “Phù kinh dĩ hòa, hà sự bất hành, , (III.12, Nhạc ký), này dùng lòng kính tôn với tinh thần hòa điệu thì có việc chi trên đời mà chẳng xong? Bởi vậy mới nói: Nhạc chi tắc vô oán, Lễ chi tắc vô tranh,

,

. ‘

Nhạc mà thấu đáo thì dân không điều oán hận. Lễ mà chính trực thì dân khỏi tranh dành. Hòa hàng Dọc với Thiên Địa. Muốn cho Nhạc đi đến chỗ cùng cực thì cần phải lưu tâm đến việc Hòa hàng Dọc tức là hợp Thiên với Địa, để Tam Tài hòa đồng. Nhạc giả đôn hòa, xuất thần nhi tòng Thiên.

樂 者 敦 和,

出 神 而 從 天 (16).

“Nhạc mà hòa thấu triệt thì đến chỗ xuất thần theo Trời”. “Xuất thần, tòng Thiên!” Tại sao lại quy cho Nhạc những hiệu lực huyền bí đến thế? Thưa là vì nhạc biểu lộ tiết điệu một cách rõ rệt mà tiết điệu chính là Đạo rồi. Nhất Âm nhất Dương chi vị Đạo. Nhất Động nhất Tĩnh, nhất Hạp nhất Tịch cũng là thế cả. Một ra một vào, một đóng một mở đó chính là Đạo, nghĩa là cái luật phổ biến mà Tam tài đều tham dự như nhau: Thiên- Địa-Nhân đều nằm chung trong cái luật Vũ trụ đó, cái luật mà mỗi người trong chúng ta có thể xem thấy tiến diễn quanh mình. Muôn vật đều một sinh một tử và con người cũng có thể cảm thông trong gân mạch cái nhịp đó: một hít một thở. Muốn thoát luật đó giây phút (như nín hơi một lúc) là hết sống. Cái luật nhất Hạp nhất Tịch cảm ngay thấy trong tim phổi và mạch máu của ta cũng chính là luật lưu hành trong Trời Đất nên chi ở nhiều Đạo giáo đã được dùng làm bàn nhún để siêu lên hợp cùng Thần linh như tức Đạo là Đạo thở. Vậy mà Nhạc là sự thể hiện rõ rệt nhất cái nhịp phổ biến đó: một lên một xuống, một ra một vào. Âm thanh là ra do Tâm cảm xúc ngoại vật mà phát thành tiếng. Người Quân tử phải nghĩ đến vô. Trở ra sao, trở vô cũng thế. Nếu Tâm bi ai thì tiếng xuất ra bi ai. Ngược lại nếu tiếng bi ai thì khiến Tâm bi ai. Cái luật “Tương duyên” (ảnh hưởng lẫn nhau) đó là đầu mối của Nhạc. Do đấy yếu tố trở lại (phản phục) có ảnh hưởng rất mạnh. Thánh nhân hiểu điều ấy nên không để cho Âm Thanh xô bồ phát xuất, nhưng tìm những Âm Thanh tốt đẹp để đem lại hiệu nghiệm cho Giáo dục, do đó có mối liên hệ mật thiết giữa Nhạc và Chính trị. “Thế loạn tắc Lễ thác nhi nhạc dâm ” (Nhạc ký II.12), lúc nước loạn thì Lễ trở thành trá nguỵ mà Nhạc trở nên quá quắt: buồn (ai) đến mất trang nhã, vui (lạc) đến mất an bình, bất kính (man) và bừa bãi (dị) đến phạm vào Lễ tiết. Mỗi người trôi theo Dục vọng (lưu) say sưa (miện), cho đến quên Tính bản nhiên (vong bổn) của mình. Lúc đó những bài chậm (quảng) thì gợi lên những dự tính Tội ác, những bài mau (hiệp) gợi lên Dâm đãng: cả hai làm hại khuynh hướng con người sẵn muốn thông giao và bóp nghẹt mất lòng ái mộ công chính và hòa hợp. Vì thế người Quân tử khinh thứ nhạc đó.   

庄.Thị cố kỳ thanh ai nhi bất trang

安.lạc nhi bất an

節.Mạn, dị, dĩ phạm tiết

本.lưu miện dĩ vong bổn

奸.Quảng tắc dung gian

欲.hiệp tắc tư dục

气.Cảm điều sướng chi khí

德.diệt hòa bình chi đức  

 Thị dĩ quân tử tiện chi dã. (Nhạc ký II.13)

Bởi vậy nói cái ý hướng của Nhạc là đi tới cái Bổn gốc mà biết được cách biến đổi (lòng người). Vì nó cùng một luật như Trời Đất. Tự thưở mới khai Thiên lập Địa đã có Nhạc nghĩa là đã có Tiết tấu “Nhạc trứ đại thuỷ, nhi Lễ ư thành vật. Trứ bất tức giả Thiên dã,

, .

“.

Nhạc soi tỏ lúc mới khởi thuỷ Trời Đất, Lễ tham dự vào việc làm thành sự vật. Soi sáng luôn không nghỉ là Trời. Muốn đạt đích đó thì Ra rồi phải có Vô, có trở lại (phản):

Nhạc đắc kỳ phản tắc an, an tắc cửu, cửu tắc thiên, thiên tắc thần,

, , , “.

Nhạc có trở lại thâm Tâm mới được an. Có an mới lâu, có lâu mới hợp đạo Trời, có hợp đạo Trời mới tới chỗ Thần diệu, tới chỗ “chí thành như Thần, ” (TD). Thành là thành Tính (thành tính tồn tồn, đạo nghĩa chi môn) là mục tiêu tối đại của Đạo cũng như của Nghệ thuật mà Nhạc là bà Chúa giàu khả năng nhất trong việc nâng Tâm hồn lên, siêu thoát vào cõi vô biên, vì thế mới nói:

” Đức giả Tính chi đoan dã, Nhạc giả đức chi Hoa dã,

,

” (Nhạc V.21).

Đức là cái gốc của Tính, còn Nhạc là Hoa của Đức“. Đấy là ý sâu của câu “Thành ư Nhạc” vậy.

Hau Nguyen <nvietnhan27@yahoo.com>

Trả lời

Điền thông tin vào ô dưới đây hoặc nhấn vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất /  Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất /  Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất /  Thay đổi )

Connecting to %s